Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Dương Sinh Huy
  • Ông Nguyễn Văn Phẩm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/ 2024 /TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Sĩ K, sinh năm 2003 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V, nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Huỳnh Thị Tuyết T; anh, chị, em ruột 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án, tiền sự: chưa có.

Nhân thân: Bị cáo Trần Sĩ K không có án tích, không bị xử lý kỷ luật đã được xóa. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1951 (đã chết). Cư trú: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  • + Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1965 (Có văn bản xin xét xử vắng mặt)
  • Cư trú: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1956.
  • Cư trú: ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
  • Cư trú: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

(Bà H, bà T1 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn D1 tham gia tố tụng).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Tổng công ty B1. (vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Toà nhà MB lầu 5, số A, đường C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người làm chứng:

Huỳnh Hữu T2, sinh năm 2005. (vắng mặt)

Cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 16/10/2023, bị cáo Trần Sĩ K cư trú tại: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển xe mô tô biển số 64B2- 593.60, nhãn hiệu Exciter trên tỉnh lộ 902 đi từ hướng xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đến đoạn đường tại xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do không quan sát hướng đi, bị cáo K va chạm với bị hại Nguyễn Thị D đang đi bộ qua đường cả hai phải đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh V hậu quả bị hại Nguyễn Thị D tử vong vào khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo K bị gãy xương hàm mặt phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V.

Kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định như sau:

Bị cáo Trần Sĩ K không chú ý quan sát hướng đi dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ. Bị cáo K vi phạm quy định tại khoản 4, Điều 11 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 731/KLGĐTT-KTHS, ngày 18/10/2023 đã kết luận nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị D do: gãy, trật đốt sống cổ 2,3 gây đứt dây chằng và đứt tuỷ cổ 2,3 (C2, C3).

Đến ngày 19/10/2023 và ngày 04/12/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự và khởi tố bị can đối với Trần Sĩ K ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với K.

Đối với phương tiện: xe mô tô biển số 64B2- 593.60 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo K trong giai đoạn điều tra.

Ý kiến trình bày của đại diện hợp pháp bị hại ông Nguyễn Văn D1:

Bà Nguyễn Thị D (bị hại) trong vụ án từ trước đến khi chết không có chồng, không con, hiện nay cha, mẹ bà D đã chết nhiều năm trước, bà D có 04 anh, chị, em ruột là Nguyễn Thị D (đã chết), Nguyễn Văn D1, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H trong vụ án này bị cáo K đã đến nhà thoả thuận bồi thường cho đại diện bị hại là ông D1 gồm các chi phí như: phí cấp cứu, mai táng phí, mồ mã, tổn thất tinh thần, tiền làm đám tang....tổng số tiền 150.000.000đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) hiện nay các chi phí, thiệt hại đã bồi thường xong nên phía đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm, đồng thời đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Sĩ K.

Tại bản cáo trạng số 12/CT- VKS.HMT, ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố Trần Sĩ K về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia xét xử phân tích hành vi phạm tội của bị cáo K và phát biểu nội dung luận tội, khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Sĩ K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, mặc khác do bị hại cũng có một phần lỗi nên đề nghị xử phạt Trần Sĩ K từ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận trong giai đoạn điều tra việc bị cáo Trần Sĩ K bồi thường cho đại diện bị hại 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) bao gồm các khoản như: Mai táng phí, tiền quan tài, mồ mã, chi phí đám tang, tổn thất tinh thần... đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Đối với hợp đồng bảo hiểm “giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe Mô tô – xe máy, xe máy điện” giữa bị cáo Trần Sĩ K với Tổng công ty B1 – MIC, do bị cáo K đã tự bỏ tiền ra đền bù thiện hại cho phía bị hại, phía bị hại xác nhận đã nhận đủ tiền đền bù thiệt hại không yêu cầu gì thêm. Mặt khác bị cáo K đề nghị tự thoả thuận với Tổng công ty B1 sau khi có bản án nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự, phương tiện mô tô phía bị cáo đã nhận lại xong, không yêu cầu nên miễn xét; trả lại bị cáo Trần Sĩ K 01 giấy phép lái xe số [...] của Trần Sĩ K, sinh năm 2003, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/02/2024.

Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít phân tích do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp lỗi vô ý nên Viện kiểm sát rút lại một phần truy tố trong bản cáo trạng đối với tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 “ phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên”.

Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện tại xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát rút lại một phần truy tố trong bản cáo trạng đối với tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xét thấy phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[ 2.1 ] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Sĩ K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 16/10/2023, bị cáo K điều khiển xe ô tô biển số 64B2- 593.60, nhãn hiệu Exciter đi trên tỉnh lộ 902 thuộc địa phận xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do thiếu quan sát không nhường đường cho người đi bộ qua đường hậu quả va chạm trực tiếp với bà Lê Thị D2 và dẫn đến bà D2 tử vong.

Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp bản kết luận điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản nhận xét lỗi. Vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa như: các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Sĩ K phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tính mạng của con người là vốn quí giá nhất, được luật hình bảo vệ, trong vụ án này hành vi của bị cáo tuy vô ý nhưng đã làm chết một người. Vì thế cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm cho bị cáo để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo K có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi xảy ra tai nạn và trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thật thà khai báo, biết ăn năn hối cải. Mặt khác bị cáo K tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả như cầm cố đất là chổ ở duy nhất của mẹ bị cáo và bị cáo để lấy tiền bồi thường cho bị hại; cha, mẹ bị cáo không sống chung khi bị cáo còn nhỏ, hiện nay bị cáo là lao động chính nuôi mẹ đang bị bệnh, khi xãy ra tai nạn bị cáo cũng bị gãy 02 xương hàm tuy nhiên sau khi điều trị khỏi thì bị cáo thường xuyên thăm hỏi gia đình bị hại, tích cực khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp bị hại có văn bản thừa nhận, yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo mặc khác phía bị hại cũng có một phần lỗi thiếu quan sát từ xa khi qua đường nơi không có vạch qua đường dành cho người đi bộ.

Do đó nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xem đó là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình và quyết định hình phạt không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giám sát giáo dục mà chỉ xử phạt án treo là tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[ 2.2] Về trách nhiệm dân sự:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận trong giai đoạn điều tra việc bị cáo Trần Sĩ K bồi thường cho đại diện bị hại 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) bao gồm các khoản như: Mai táng phí, tiền quan tài, mồ mã, chi phí đám tang, tổn thất tinh thần... đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Đới với hợp đồng bảo hiểm “giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe Mô tô – xe máy, xe máy điện” giữa bị cáo Trần Sĩ K với Tổng công ty B1 – MIC, do bị cáo K đã tự bỏ tiền ra đền bù thiện hại cho phía bị hại, phía bị hại xác nhận đã nhận đủ tiền đền bù thiệt hại không yêu cầu gì thêm. Mặt khác bị cáo K đề nghị tự thoả thuận với Tổng công ty B1 – MIC sau khi có bản án nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này.

[ 2.3] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự, phương tiện mô tô phía bị cáo đã nhận lại xong, không yêu cầu nên miễn xét; trả lại bị cáo Trần Sĩ K 01 giấy phép lái xe số [...] của Trần Sĩ K, sinh năm 2003, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/02/2024.

[ 3 ] Về án phí: Bị cáo Trần Sĩ K phải nộp án phí theo quy định tại Điều 25 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Sĩ K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Trần Sĩ K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (ba) năm tính từ tuyên án (16/4/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Sĩ K chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:

Ghi nhận sự thoả thuận trong giai đoạn điều tra việc bị cáo Trần Sĩ K bồi thường cho đại diện bị hại 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) bao gồm các khoản như: Mai táng phí, tiền quan tài, mồ mã, chi phí đám tang, tổn thất tinh thần...

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự, pương tiện mô tô phía bị cáo đã nhận lại xong, không yêu cầu nên miễn xét; trả lại bị cáo Trần Sĩ K 01 giấy phép lái xe số [...] của Trần Sĩ K, sinh năm 2003, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/02/2024.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Sĩ K nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo, người tham gia TT;
  • - Sở Tư pháp TVL;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ CATVL;
  • - Lưu HS

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Huỳnh Công Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Sĩ K Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger