Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh, ông Nguyễn Đình Hoài.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đồng - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 09/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/HSST-QĐ ngày 24/4/2024 đối với bị cáo:

Lưu Văn L; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 10/4/1990 tại: phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: TDP F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lưu Văn V và bà Phan Thị Ngọc Q; có vợ Hoàng Thị Y và 01 con (sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị khởi tố bị can ngày 09/10/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 09/10/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị Ngọc Q, sinh năm: 1971; địa chỉ: Số nhà A, đường Q, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
  2. Ông Trần Công N, sinh năm: 1983; địa chỉ: Tổ B, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

- Những người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Đức T, sinh năm: 1993; địa chỉ: Số nhà A, ngõ A đường Q, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

1

  1. Anh Trần Văn C, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số nhà F, ngõ A đường N, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Phạm Thế A, sinh năm: 1985; địa chỉ: Số nhà I, đường N, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 22 giờ 55 phút ngày 23/9/2023, tại khu vực đường T, thuộc tổ G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Tổ 238 Công an thị xã H phối hợp với lực lượng chứng năng, phát hiện Lưu Văn L (sinh năm 1990, trú tại Tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc BKS: 38F1-09255, chở Hoàng Đức T (sinh năm 1993, trú tại tổ D, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) và Trần Văn C (sinh năm 1991, trú tại tổ B, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh). Kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc BKS: 38F1-09255 phát hiện trong cốp xe có 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng sáng, tay cầm có ốp vỏ màu đen, trong súng không có đạn. Lưu Văn L khai nhận khẩu súng trên là của L mua trên mạng xã hội với giá 3.000.000 đồng. Lực lượng chức năng đã lập biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong vật chứng.

Kết quả điều tra xác định: Khoảng tháng 9/2023, Trần Công N (sinh ngày 12/02/1983, trú tại phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, anh em họ với Lưu Văn L), đến nhà Lưu Văn L (tại tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) chơi. Quá trình nói chuyện, Lưu Văn L biết Trần Công N nhiều lần đặt mua súng thể thao để săn bắn qua mạng xã hội nhưng không mua được nên L đã chủ động nói với N để L hỏi và mua giúp cho N nhưng không nói rõ loại súng gì, N đồng ý. Do có mối quan hệ quen biết từ trước với Phan Văn T1 (sinh ngày 01/3/1993, gia đình ở phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, hiện Trường sống tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương), Lưu Văn L sử dụng tài khoản mạng xã hội M có tên “Lưu L” nhắn tin vào tài khoản “Phan Văn T1” của Phan Văn T1 để đặt vấn đề nhờ T1 mua giúp cho L một khẩu súng, T1 đồng ý và nói có gì báo lại sau. Khoảng hai ngày sau, Phan Văn T1 nhắn tin cho Lưu Văn L qua tài khoản Messenger thông báo với L có 01 khẩu súng, giá 3.000.000 đồng và gửi số tài khoản 101871576687 ngân hàng V1 của Phan Văn T1 cho L, yêu cầu L chuyển tiền và gửi địa chỉ, số điện thoại người nhận để T1 gửi súng, Lưu Văn L đồng ý. Sáng ngày 18/9/2023, Lưu Văn L đến phòng giao dịch ngân hàng V1 thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh nộp trực tiếp vào tài khoản số [...] của Phan Văn T1 số tiền 16.000.000 đồng (trong đó 3.000.000 đồng tiền mua súng, 13.000.000 đồng trả nợ cá nhân).

Ngày 23/9/2023, Lưu Văn L nhận được đơn hàng có vỏ bọc bên ngoài là hộp bìa cattong, nội dung trên đơn “Đồ chơi xe”, người gửi là “Thành, số điện thoại 0339.725.xxx, địa chỉ phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa”. Sau đó, Lưu Văn L đưa hộp hàng đó về phòng ngủ của mình mở ra thấy bên trong có 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng sáng, dạng ổ quay, dài 12,2cm, cao 8,5cm, ổ đạn dạng hình trụ tròn, có 06 ổ chứa đạn, đường kính 2,7cm, dài 2,7cm, tay cầm ốp vỏ màu đen. Lưu Văn L chụp ảnh khẩu súng, gửi qua tin nhắn điện thoại cho Trần Công N xem, do không đúng với mẫu súng N muốn mua nên N không lấy. Ngay sau đó, Lưu Văn L nhắn tin trao đổi với Phan Văn T1 thống nhất sẽ trả khẩu súng lại cho người gửi nhưng do chưa đi gửi trả được nên Lưu Văn L cất dấu khẩu súng dưới đệm trong phòng ngủ của mình. Chiều tối ngày 23/9/2023, do sợ để súng trong phòng không an toàn, nên L đã lấy khẩu súng dấu trong cốp xe mô tô BKS: 38F1-09255 (xe mượn của bà Phan Thị Ngọc Q sinh năm 1971, trú tại tổ F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, mẹ của L). Buổi tối cùng ngày, Lưu Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc BKS: 38F1-09255 bên trong có khẩu súng L cất giấu trước đó, đến nhà Nguyễn Hoài B (sinh năm 1991, trú tại tổ A, phường N, thị xã H) chơi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đang ở nhà Nguyễn Hoài B thì Hoàng Đức T gọi điện thoại nhờ Lưu Văn L đến thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh chở về nhà tại thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, L đồng ý. Sau khi đón được Hoàng Đức T, do T uống bia say Lưu Văn L gọi điện thoại cho Trần Văn C bảo hỗ trợ L chở T về nhà. Khoảng 22 giờ 30’cùng ngày, Lưu Văn L điều khiển xe mô tô BKS: 38F1-09255 chở Hoàng Đức T đến khu vực gần trường C2 đón Trần Văn C. Khi xe mô tô do Lưu Văn L điều khiển chở Hoàng Đức T và Trần Văn C đi đến đường T thuộc địa phận tổ G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe và kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 khẩu súng, dạng ổ quay, dài 12,2cm, cao 8,5cm, ổ đạn dạng hình trụ tròn, có 06 ổ chứa đạn, đường kính 2,7cm, dài 2,7cm, tay cầm ốp vỏ màu đen Lưu Văn L dấu trong cốp xe.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng sáng, dài 12,2cm, rộng 8,5cm, ổ đạn hình trụ tròn có 06 lỗ, đường kính 2,7cm, dài 2,7cm; đường kính nòng súng 1,6cm, tay cầm được ốp vỏ màu đen;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, vỏ màu đen, số máy MT2E2LL/A, số seri G0NYHB15KXKN, số Imei: 353069107471664, gắn thẻ sim: 0826911052 (đã qua sử dụng).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc BKS: 38F1-09255.

* Kết luận giám định:

Ngày 29/9/2023, Phòng K Công an tỉnh H có kết luận giám định số 878/KL-KTHS, kết luận:

Mẫu vật gửi giám định là loại súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm, thuộc vũ khí quân dụng. Súng còn sử dụng để bắn được, khi súng bắn đạn vào cơ thể người gây chết người hoặc bị thương.

* Xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc BKS: 38F1-09255 chủ sở hữu là Phan Thị Ngọc Q. Ngày 23/9/2023, Lưu Văn L mượn xe và bỏ súng vào cốp xe của Phan Thị Ngọc Q, Q không biết việc Lưu Văn L sử dụng xe trên để cất giấu súng, nên ngày 15/11/2023 Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu.

3

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xr, vỏ màu đen, số máy MT2E2LL/A, số seri G0NYHB15KXKN, số Imei: 353069107471664, gắn thẻ sim: 0826911052 được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.

- Đối với khẩu súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H để quản lý, bảo quản theo quy định.

* Các đối tượng liên quan trong vụ án:

  • Đối với Phan Văn T1 theo lời khai của Lưu Văn L là người đã mua khẩu súng cho L. Quá trình điều tra xác định Phan Văn T1 không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu, làm gì không rõ. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Phan Văn T1 để xác minh làm rõ, xử lý sau.
  • Đối với Trần Công N, quá trình điều tra xác định, Lưu Văn L là người chủ động hỏi mua súng cho N, khi mua súng, L cũng không nói sẽ mua súng gì nên khi được L cho xem hình ảnh khẩu súng, L đã mua, N không đồng ý lấy. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với N.
  • Đối với người có thông tin tên “T2” được ghi trên bưu phẩm gửi đến Lưu Văn L, kết quả điều tra xác định đơn hàng của khách có thông tin gửi là “Thành”, nội dung hàng hóa là “Đồ chơi xe”, khi vào gửi hàng người gửi chỉ đăng ký thông tin và số điện thoại người gửi là 0339.725.xxx, ngoài ra không có thông tin gì khác. Do thông tin của người gửi hàng trên không đầy đủ nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.
  • Đối với số điện thoại 0339.725.xxx được ghi trên hộp bưu phẩm đựng súng, cơ quan điều tra xác minh đăng ký chính chủ là Nguyễn Kiều C1 (sinh ngày 20/6/2001, trú tại thôn K, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Hiện nay Nguyễn Kiều C1 không có mặt tại địa phương.
  • Đối với Hoàng Đức T và Trần Văn C là hai người đi cùng xe với Lưu Văn L vào ngày 23/9/2023. Quá trình điều tra xác định, T và C không biết trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 38F1-09255 của Lưu Văn L cất giữ khẩu súng. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Hoàng Đức T và Trần Văn C.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSHT – P1 ngày 14 tháng 03 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lưu Văn L “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Lưu Văn L từ 15 đến 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (09/10/2023).

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 304; Điều 32, Khoản 2 Điều 35 BLHS phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:

Tịch thu 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng sáng, dài 12,2cm, rộng 8,5cm, ổ đạn hình trụ tròn có 06 lỗ, đường kính 2,7cm, dài 2,7cm; đường kính nòng súng 1,6cm, tay cầm được ốp vỏ màu đen bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x 26,7 mm thuộc vũ khí quân dụng và giao cho Bộ chủ huy quân sự tỉnh H xử lý theo quy định.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphon Xr, vỏ màu đen, số máy MT2E2LL/A, số seri G0NYHB15KXKN, số Imei: 353069107471664, gắn thẻ sim: 0826911052 thu của Lưu Văn L.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.

[2] Về căn cứ pháp lý để xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, các chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng, kết luận giám định, thông qua quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 22 giờ 55 phút, ngày 23/9/2023, tại khu vực đường T, thuộc tổ G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, Lưu Văn L đã có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng loại súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái pháp vũ khí quân dụng” quy định tại Khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lưu Văn L về tội danh và Điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Lưu Văn L được biết Trần Công N nhiều lần đặt mua súng thể thao để săn bắn qua mạng xã hội nhưng không mua được nên L đã chủ động nói với N để mua giúp cho N. Bị cáo đã đặt vấn đề với Phan Văn T1 để đặt vấn đề nhờ T1 mua giúp cho L một khẩu súng. Sau khi nhận được súng do không đúng với mẫu súng N muốn mua nên N không lấy. Bị cáo đã cất dấu khẩu súng dưới đệm trong phòng ngủ của mình. Chiều tối ngày 23/9/2023, do sợ để súng trong phòng không an toàn, nên bị cáo L đã lấy khẩu súng dấu trong cốp xe mô tô BKS: 38F1-09255. Bị cáo là người trực tiếp tàng trữ, cất dấu khẩu súng loại súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm, thuộc vũ khí quân dụng.

Bị cáo Lưu Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, chỉ vì muốn giúp bạn mua súng mà bị cáo đã không chấp hành các quy định của Nhà nước về công tác quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng dẫn đến hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về vũ khí quân dụng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị ở địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự vì quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 32, Khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 304 Bộ luật hình sự: Cần phạt bổ sung bị cáo hình phạt tiền như đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Đối với hành vi và các đối tượng liên quan trong vụ án:

  • - Đối với Phan Văn T1 theo lời khai của Lưu Văn L là người đã mua khẩu súng cho L. Quá trình điều tra xác định Phan Văn T1 không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu, làm gì không rõ. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Phan Văn T1 để xác minh làm rõ, xử lý sau.
  • - Đối với Trần Công N, quá trình điều tra xác định, Lưu Văn L là người chủ động hỏi mua súng cho N, khi mua súng, L cũng không nói sẽ mua súng gì nên khi được L cho xem hình ảnh khẩu súng, L đã mua, N không đồng ý lấy. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nghĩa là có căn cứ.
  • - Đối với người có thông tin tên “T2” được ghi trên bưu phẩm gửi đến Lưu Văn L, kết quả điều tra xác định đơn hàng của khách có thông tin gửi là “Thành”, nội dung hàng hóa là “Đồ chơi xe”, khi vào gửi hàng người gửi chỉ đăng ký thông tin và số điện thoại người gửi là 0339.725.xxx, ngoài ra không có thông tin gì khác. Do thông tin của người gửi hàng trên không đầy đủ nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.
  • - Đối với số điện thoại 0339.725.xxx được ghi trên hộp bưu phẩm đựng súng, cơ quan điều tra xác minh đăng ký chính chủ là Nguyễn Kiều C1 (sinh ngày 20/6/2001, trú tại thôn K, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Hiện nay Nguyễn Kiều C1 không có mặt tại địa phương.
  • - Đối với Hoàng Đức T và Trần Văn C là hai người đi cùng xe với Lưu Văn L vào ngày 23/9/2023. Quá trình điều tra xác định, T và C không biết trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 38F1-09255 của Lưu Văn L cất giữ khẩu súng. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Hoàng Đức T và Trần Văn C là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

  • - Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xr, vỏ màu đen, số máy MT2E2LL/A, số seri G0NYHB15KXKN, số Imei: 353069107471664, gắn thẻ sim: 0826911052, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Xét thấy đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
  • (Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2024 ngày 19/3/2024 giữa cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)
  • - Đối với khẩu súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm, thuộc vũ khí quân dụng. Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H xử lý theo quy định.
  • (Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Lệnh nhập kho vật chứng số 02/VC/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Kho K- Phòng HC-KT của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

7

Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 304, Điều 32, Khoản 2 Điều 35, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm a,c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

2. Về hình phạt chính:

- Xử phạt bị cáo Lưu Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (09/10/2023).

3. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt tiền bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng).

4. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xr, vỏ màu đen, số máy MT2E2LL/A, số seri G0NYHB15KXKN, số Imei: 353069107471664, gắn thẻ sim: 0826911052, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
  • (Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 35/2024 ngày 19/3/2024 giữa cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)
  • - Tịch thu 01 khẩu súng tự chế bắn đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, 5,6x26,7mm, thuộc vũ khí quân dụng và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H xử lý theo quy định.
  • (Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Lệnh nhập kho vật chứng số 02/VC/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Kho K- Phòng HC-KT của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).

5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo bản án: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

8

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh
  • - THAHS TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng LLTP Sở Tư pháp;
  • - Các bị cáo; những người có QLNVLQ;
  • - Lưu VT; HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thương Huyền

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger