Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 13 - 12 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp

Ông Nguyễn Hồng Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, Thông báo mở lại phiên toà số 01/TB-TA ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đình T; sinh ngày 21 tháng 01 năm 1985 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình T1; con bà: Nguyễn Thị H; Gia đình có bốn anh em, bị cáo là con đầu; vợ: Nguyễn Thị H1, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Ngày 09/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tuyên phạt 05 năm tù về tội “Vận chuyển tiền giả” (Bản án số 26/2018/HS-ST). Ngày 15/01/2021 được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện số 54/2020/HSST-QĐ ngày 30/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương, vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách nên bị buộc phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại theo Quyết định huỷ bỏ Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện số 01/2022/HSST-QĐ ngày 28/10/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và

Biên bản bắt người đang bị truy nã ngày 12 tháng 07 năm 2023; tiền sự: Không; nhân thân: Không; Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam S, Cục C, Bộ C1. Có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Duy Đ, sinh năm: 1998

Nơi cư trú: Số nhà A K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn H2, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Quốc T2; sinh năm 1991.

Nơi ĐKNKTT: Số nhà D N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: P, tòa B, chung cư T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt không có lý do.

+ Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Số nhà C N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Do cần tiền giải quyết nợ nần nên Lê Đình T nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài. Thực hiện ý định trên, khoảng 14 giờ ngày 05/6/2022 T đến cửa hàng thuê xe ô tô tự lái số D Q, phường Đ, thành phố T của anh Lê Duy Đ (sinh năm 1998, trú tại 1 K, phường Đ, thành phố T), gặp và nói với anh Trần Quốc T2 (là nhân viên được anh Đ giao quản lý cửa hàng) cho thuê 01 chiếc xe ôtô làm phương tiện đi lại. Anh T2 tin tưởng nên đồng ý và ký hợp đồng cho T thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 36A-780.86, hẹn đến ngày 08/6/2022 sẽ trả, với giá thuê là 900.000 đồng/01 ngày. Khi thuê xe, T để lại 01 Chứng minh thư nhân dân mang tên Lê Đình T, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36B2-973.18, đăng ký mang tên Hà Văn H2 và số tiền 500.000 đồng để làm tin. Vì đã có mục đích từ trước và chưa có bằng lái xe ô tô nên T lên mạng tìm kiếm người lái xe thuê và liên hệ với một người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch), cùng T3 đến cửa hàng thuê xe ô tô tự lái của anh Đ. Sau khi thuê được xe, T bảo T3 điều khiển xe đi thẳng ra Hà Nội (quá trình di chuyển T không trao đổi, bàn bạc gì với T3). Đến Hà Nội, T lên mạng tìm kiếm thông tin người nhận cầm cố và liên hệ với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) cầm cố chiếc xe KIA, BKS 36A-780.86 với giá 70.000.000 đồng thì được người này đồng ý. Hai bên gặp nhau

để giao dịch, xem xe và thống nhất xong, T nhận được 01 giao dịch chuyển khoản số tiền 66.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng mang tên Nguyễn Thị Lâm H3 vào tài khoản ngân hàng Lê Đình T của người đàn ông này (Do đã cắt lãi cầm cố số tiền 3.500.000 đồng nên giao dịch chuyển khoản còn 66.500.000 đồng). Sau đó người này yêu cầu T viết thông tin và ký nhận vào giấy bán xe; giấy nhận tiền đặt cọc bán xe có nội dung “Lê Đình T, bán 01 chiếc xe KIA, BKS 36A-78086 đăng ký mang tên Lê Duy Đ, giá bán 450.000.000 đồng, đặt cọc 70.000.000 đồng, còn lại 380.000.000 đồng, đã bàn giao trước 01 xe ô tô KIA, BKS 36A-78086, đã nhận đủ 70.000.000 đồng và để trống thông tin người mua”, T biết nội dung giấy tờ mua bán nhưng vẫn viết thông tin và ký nhận. Xong việc T trả công cho T3 1.000.000 đồng và bắt xe khách về Thanh Hóa. Sau đó tắt điện thoại liên lạc trốn khỏi địa phương.

Về phía chủ xe anh Lê Duy Đ, sau khi cho thuê xe, anh Đ kiểm tra định vị thấy chiếc xe đang ở ngoài Hà Nội sau đó mất tín hiệu. Đến ngày 10/6/2022 anh Đ kiểm tra định vị thấy xe đang di chuyển tại Hà Nội nên nhờ bạn là anh Nguyễn Công D lại vị trí chiếc xe thì gặp 01 người đàn ông điều khiển xe nói là đã mua lại chiếc xe ô tô và đưa cho anh D xem 01 Giấy biên nhận đặt cọc bán xe; 01 Giấy bán xe, có nội dung như trên (Anh D1 đã sử dụng điện thoại chụp lại hình ảnh 02 giấy này và giao nộp cho Cơ quan điều tra), người này giới thiệu tên là P người huyện T, tỉnh Thanh Hóa, sử dụng số điện thoại 0975.078.xxx, sau đó điều khiển xe đi mất. Anh Đ liên hệ qua số điện thoại, người này yêu cầu chuyển số tiền 70.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền lãi rồi sẽ gửi vị trí cho lấy chiếc xe, nhưng anh Đ không đồng ý, thì người này tắt máy. Ngày 13/6/2022, do không liên lạc được với T, không lấy được xe nên anh Đ đến Công an tỉnh T tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lê Đình T.

Kết luận định giá tài sản xác định: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 36A-780.86 trị giá 473.000.000 đồng.

Kết luận giám định (02 tệp video Lê Đình T đến thuê xe) của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video; Không xác định được nội dung hình ảnh của 02 tệp video; Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi đi giám định.

Kết luận giám định chữ viết chữ ký trong hợp đồng thuê xe ô tô của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Chữ viết “Trình' cuối trang 1, chữ ký dạng chữ viết “Trình”, chữ viết “Lê Đình T” dưới mục “Đại diện bên B (bên thuê xe)” ở mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Lê Đình T ở mẫu cần so sánh (ký hiệu M1, M2). Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T bổ sung mẫu chữ viết, chữ ký của Lê Đình T để kết luận giám định. Chữ viết phần nội dung ở mẫu vật cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết đứng tên Lê Đình T ở mẫu vật cần so sánh (ký hiệu M1, M2) không phải do cùng một người viết ra.

Về vật chứng vụ án: Anh Nguyễn Duy Đ1 đã tự nguyện giao nộp chiếc

xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36B2-973.18, đăng ký mang tên Hà Văn H2 mà T đã để lại làm tin khi thuê xe ô tô. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô của anh H2 là T mượn để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Hà Văn H2 là chủ sở hữu hợp pháp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bị cáo trả lại chiếc xe ô tô hoặc bồi thường giá trị chiếc xe là 473.000.000 đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn H2 và anh Trần Quốc T2 không yêu cầu gì về dân sự.

Quá trình điều tra, Lê Đình T thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 192/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà:

Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, ĐIều 56 BLHS đề nghị: Xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 11 (mười một) năm 6 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 5 (năm) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2018/HSST ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 16 (mười sáu) năm 6 (sáu) tháng tù đến 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 29/12/2017), thời gian bị cáo được tha tù trước thời hạn có điều kiện (từ ngày 15/01/2021 đến ngày 11/07/2023) không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS): Buộc bị cáo Lê Đình T phải bồi thường cho anh Lê Duy Đ số tiền là 473.000.000đ (bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng)

Ngoài ra Đại diện VKSND còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng ý với việc sẽ bồi thường cho anh Lê Duy Đ số tiền là 473.000.000đ (bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng) khi nào bị cáo có tiền, đồng ý với toàn bộ quan điểm và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra bị hại trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo, nội dung bản cáo trạng.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở chứng minh: Do có mục đích chiếm đoạt từ trước bằng thủ đoạn thuê xe ô tô tự lái rồi mang đi cầm cố lấy tiền, nên ngày 05/6/2022, Lê Đình T đã nói dối anh Trần Quốc T2 (người được anh Lê Duy Đ chủ cửa hàng thuê xe tự lái giao quản lý) để thuê một chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 36A-780.86 trị giá 473.000.000 đồng, sau đó mang đi cầm cố lấy 70.000.000 đồng, tiêu sài cá nhân hết

Bị cáo nhận thức được việc “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô của anh Đ để đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, có 01 tình tiết giảm nhẹ là quá trình

điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS .

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Tuy nhiên. Bị cáo đang ở độ tuổi lao động nhưng lại lười lao động và thích thụ hưởng những vật chất mà không phải do bản thân mình tự tạo ra, để có tiền chi tiêu cho bản thân mà đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn.

Bị cáo có nhân thân xấu, đang có tiền án về tội “vận chuyển tiền giả”, chưa chấp hành xong bản án, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu cải sửa mà còn xem thường pháp luật. Nên cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Căn cứ điều 55; điều 56 BLHS, HĐXX tổng hợp hình phạt của bị cáo đang phải chấp hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2018/HSST ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và hình phạt của bản án bị cáo đang bị xét xử thành hình phạt chung của cả hai bản án. Thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền theo giá trị định giá chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 36A-780.86 mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 473.000.000 đồng, yêu cầu của bị hại là có cơ sở, nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thầm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các đề nghị của Đại diện VKSND là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, ĐIều 56 BLHS; Áp dụng Điều 584, 585 và

Điều 589 BLDS, Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Đình T 12 (mười hai) năm 6 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 5 (năm) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2018/HSST ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 17 (mười bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 29/12/2017), thời gian bị cáo được tha tù trước thời hạn có điều kiện (từ ngày 15/01/2021 đến ngày 11/07/2023) không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Đình T phải bồi thường cho anh Lê Duy Đ số tiền là 473.000.000đ (bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng).

Khoản tiền bồi thường này được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Án phí: Bị cáo Lê Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 22.920.000đ (hai mươi hai triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có ql, nv lq;
  • - CQĐT CA thành phố Thanh Hoá;
  • - CQTHAHS CA thành phố Thanh Hoá;
  • - VKSND thành phố Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Oanh

Nguyễn Thị Hạnh

Nguyễn Thanh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger