TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tất Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Thị H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/6/1977; Nơi sinh: Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Vi Văn M, con bà Đàm Thị L, đều đã chết; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Có chồng là: Triệu Văn L1, sinh năm 1976, có 02 con chung, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Bị hại: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1938 (đã chết)
* Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Chị Phan Thị Thanh T1, sinh năm 1976 (Con đẻ) – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm Á, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Phan Thị P, sinh năm 1980 (Con đẻ) – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Phan Văn P1, sinh năm 1975 (Con đẻ) – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Triệu Văn L1, sinh năm 1976 – Có mặt
Nơi cư trú: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
- Chị Lương Thị T2, sinh năm 1979 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Đinh Xuân T3, sinh năm 1979 – Vắng mặt
- Chị Mai Thị H1, sinh năm 1973– Vắng mặt
Cùng nơi cư trú: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 20/11/2023, Vi Thị H (Có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20B2- 283.69 đi trên đường T theo hướng xã K đi xã V, phía sau chở chị Lường Thị T4, sinh năm 1979, trú tại: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi đi đến Km 5 + 650, thuộc xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì H phát hiện phía trước cách khoảng 40 mét có bà Ngô Thị T, sinh năm: 1938, trú tại: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi bộ một mình từ lề đường bên phải sang lề đường bên trái, theo chiều đi của H. Sau đó, H tiếp tục cho xe đi thẳng, do không giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ qua đường để đảm bảo an toàn nên đã đâm va vào chân bên phải của bà T khiến bà T ngã đập đầu xuống đất, gây tai nạn. Hậu quả: Xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. H và T4 không bị thương tích gì, bà Ngô Thị T đưa đi Bệnh viện cấp cứu, đến ngày 27/11/2023 thì tử vong.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:
Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường nằm trên tuyến đường tỉnh lộ 269D (L - T) thuộc xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải bê tông nhựa, mặt đường rộng 5,7m. Lề đường bên phải theo chiều V đi K rộng 0,8m. Lề đường trái theo chiều đi V đi K rộng 0,6m. Hiện trường xảy ra tai nạn ở phía trước cổng vào nhà ông Nguyễn Duy T5, sinh năm 1971 trú tại: Xóm Á, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cổng vào nhà ông T5 rộng 0,6m. Lấy cột điện số 1.9 nằm trên lề đường phải theo chiều V đi K làm điểm mốc cố định và lấy mép đường phải theo chiều V đi K làm mép đường chuẩn. Xe mô tô BKS: 20B2- 283.69 đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe quay vào lề đường phải theo chiều V - K. Có tâm trục
bánh lốp trước trùng với mép đường chuẩn, tâm trục bánh lốp sau cách mép đường chuẩn là 0,85m. Đo từ tâm trục bánh lốp sau xe mô tô BKS: 20B2- 283.69 đến điểm mốc là 1,85m. Trên mặt đường phía sau theo chiều đi của xe mô tô BKS: 20B2- 283.69 có 01 vết cày mặt đường theo chiều K đi V có chiều dài 0,95m, có điểm đầu cách mép đường chuẩn là 1m. Điểm cuối trùng với tâm xe mô tô BKS: 20B2- 283.69. Vết máu, kích thước (0,25 x 0,16)m. Đo từ tâm vết máu đến mép đường chuẩn là 3,05m và đo đến tâm sau trục bánh xe mô tô BKS: 20B2- 283.69 là 0,1m. Đo từ tâm vết máu đến mép đường trái rê vào nhà ông Nguyễn Duy T5 là 0,5m và đến mép cổng bên phải rẽ vào nhà bà Ngô Thị T nằm bên lề đường phải theo chiều V đi K là 46,2m. Vết cày mặt đường có chiều K đi V, có chiều dài 0,95m, có điểm đầu cách mép đường chuẩn là 1m, điểm cuối trùng với tâm xe. Trên lề đường bên phải theo hướng V đi K có 01 đầu tay phanh bị gãy rời, đầu tay phanh cách mép đường chuẩn là 0,25m và cách tâm trục trước xe mô tô BKS: 20B2 - 283.69 là 0,2m.
Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định: Xe môtô BKS: 20B2- 283.69: Cụm gương chiếu hậu phải bị xô lệch mặt trước tay gương có vết mài xước kim loại kích thước (3 x 1)cm, bề mặt có bám dính vật chất màu trắng dạng bột đá, mặt sau cụm gương có vết xước nhựa có kích thước (13 x 6)cm. Bề mặt đèn tín hiệu xin đường phía trước bên phải có vết xước nhựa kích thước (4 x 1,5)cm, vết có chiều từ trái qua phải từ trước về sau. Bật há phần nhựa ốp ngoài bên phải cụm đèn pha và đèn tín hiệu phía trước với phần nhựa ốp ngoài của cụm đồng hồ đo tốc độ (mặt bàn thờ) khoảng bật há kích thước 9cm. Đầu ngoài tay phanh trước bên phải bị gãy rời. Đầu ngoài tay nắm tay lái bên phải có vết xước kim loại kích thước (2,5 x 1,5)m, bề mặt của vết có bám dính vật chất màu trắng dạng bột đá. Mặt ngoài của ống giảm xóc trước bên phải có vết tì sạch bụi, kích thước (7 x 3)cm, vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 36cm. Đầu ngoài giá để chân trước bên phải có vết xước cao su và kim loại có bám dính vật chất màu trắng dạng bột đá. Đầu ngoài giá để chân sau bên phải có vết xước cao su và kim loại có bám dính vật chất màu trắng dạng bột đá. Mặt ngoài phía sau bảo hiểm ống bô xe có vết tì xước kim loại kích thước (6 x 2,5)cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái hoạt động bình thường. Hệ thống gương chiếu hậu bên trái, bên phải có đủ kính gương còn nguyên vẹn. Đèn tín hiệu trước, sau, trái, phải có đủ hoạt động bình thường. Hệ thống phanh trước sau có đủ hoạt động bình thường. Hai bánh lốp trước và sau còn căng đủ hơi.
Biên bản khám khám nghiệm tử thi: Vùng đầu mặt: Hai mắt đồng tử giãn tối đa, hố mắt trái quầng tím, mũi miệng khô, hai lỗ tai khô. Vùng trán phải có vết bầm tím kích thước (4 x 5)cm. Vùng đỉnh đầu có vết thương rách da cơ còn chỉ khâu kích thước (2 x 1)cm. Vùng thái dương trái lõm xương vòm sọ. Cổ, gáy có vết hoen tử thi. Ngực, bụng không có dấu vết gì. Lưng có vết hoen tử thi. Mông không thấy dấu vết gì. Cơ quan sinh dục: Âm hộ có dịch, hậu môn khô. Tay: Tay phải không có dấu vết gì. Tay trái: Mu bàn tay trái có vết bầm tím kích thước (7 x 5)cm, gãy đốt 1 ngón 4 bàn tay trái; bầm tím ở ngón 3,4,5 tay trái; mặt sau khuỷu tay trái có vết trầy
xước da kích thước (1 x 1,5)cm. Chân: Mặt trong đầu gối phải có vết trầy xước da kích thước (3 x 2)cm; mặt trong 1/3 trên cẳng chân phải có vết rách da kích thước (2,5 x 1,5)cm; mặt trong 1/3 dưới cẳng chân phải có 02 vết bầm tím kích thước (1 x 1)cm và (1 x 2)cm. Đầu gối trái có vết bầm tím kích thước (6 x 4)cm và vết trầy xước da kích thước (1 x 1,5)cm. Mổ tử thi: Vỡ xương vòm sọ vùng thái dương trái.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 34/KLGĐTT-TTPY ngày 25/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Ngô Thị T do đa chấn thương, chấn thương não nặng dấn đến tử vong.
Tại bản kết luận định giá số 56/KL-HĐĐGTS ngày 18/12/2023 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Phần hư hỏng, thiệt hại về tài sản của xe do tai nạn gây ra đối với xe môtô BKS: 20B2- 283.69 là 95.000 đồng.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, hồ sơ bệnh án, khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan đến vụ tai nạn và các tài liệu điều tra thu thập được, đủ căn cứ đã xác định nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn là do Vi Thị H điều khiển xe mô tô BKS: 20B2- 283.69 không giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ khi quan sát thấy bà Ngô Thị T đi bộ qua đường dẫn đến đâm va vào chân phải của bà T. Hậu quả: Bà T tử vong.
Về phần trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bà Ngô Thị T số tiền 80.000.000 đồng. Việc bồi thường đã thực hiện xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Xe môtô BKS: 20B2- 283.69 hiện đã trả cho chủ sở hữu là anh Triệu Văn L1 quản lý, sử dụng. 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Vi Thị H do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 27/7/2020 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 098298, được chuyển theo hồ sơ vụ án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã trả cho Vi Thị H và anh Triệu Văn L1 quản lý, sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT- VKSĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vi Thị H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vi Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Thị H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận xong, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong trước khi xét xử nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xin được cải tạo tại địa phương để có điều kiện khắc phục hậu quả đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Khoảng 17 giờ ngày 20/11/2023, tại Km 5 + 650, thuộc xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vi Thị H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20B2- 283.69, phía sau chở chị Lường Thị T4, sinh năm 1979, trú tại: xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, khi phát hiện phía trước cách khoảng 40 mét có bà Ngô Thị T, sinh năm 1938, trú tại: xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi bộ một mình từ lề đường bên phải sang lề đường bên trái, theo chiều đi của mình nhưng H không giảm tốc độ, tiếp tục cho xe đi thẳng, không nhường đường cho người đi bộ để đảm bảo an toàn nên đã đâm va vào chân bên phải của bà T gây tai nạn. Hậu quả: Bà Ngô Thị T bị thương tích đưa đi cấp cứu đến ngày 27/11/2023 thì tử vong, H và chị T4 không bị thương tích gì, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định liên quan đến tai nạn giao thông và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Khoản 4 Điều 11 và Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, cụ thể:
- Khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định:
Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
6. Khi có người đi bộ, ... qua đường;”
- Khoản 4 Điều 11 và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
“...4...Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, ... đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, ... qua đường bảo đảm an toàn...”.
Điều 12.Tốc độ và khoảng cách giữa các xe
“1. Người lái xe, ... phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường...”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Vi Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác và làm mất trật tự an toàn công cộng; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người dân lao động có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông đường bộ, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo
được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phương được địa phương xác nhận và đề nghị nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống của xã hội mà xem xét mở lượng khoan hồng của pháp luật, chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung, đồng thời tạo điều kiện để bị cáo khắc phục hậu quả đã gây ra.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe mô tô môtô BKS: 20B2- 283.69 đăng ký chủ sở hữu mang tên anh Triệu Văn L1, sinh năm 1976, trú tại: xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Đối với 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 098298 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T cấp ngày 03/11/2020 mang tên Triệu Văn L1; 01 Giấy phép lái xe số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 27/7/2020 mang tên Vi Thị H được chuyển theo hồ sơ vụ án, đây là những giấy tờ liên quan đến quản lý phương tiện và giấy tờ tùy thân của bị cáo, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ đã trả cho anh Triệu Văn L1 và bị cáo quản lý, sử dụng.
[6]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Qúa trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Vi Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vi Thị H 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vi Thị H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Vi Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ ngày 20/11/2023, tại Km 5 + 650, thuộc xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vi Thị H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20B2- 283.69, phía sau chở chị Lường Thị T4, sinh năm 1979, trú tại: xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, khi phát hiện phía trước cách khoảng 40 mét có bà Ngô Thị T, sinh năm 1938, trú tại: xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi bộ một mình từ lề đường bên phải sang lề đường bên trái, theo chiều đi của mình nhưng H không giảm tốc độ, tiếp tục cho xe đi thẳng, không nhường đường cho người đi bộ để đảm bảo an toàn nên đã đâm va vào chân bên phải của bà T gây tai nạn. Hậu quả: Bà Ngô Thị T bị thương tích đưa đi cấp cứu đến ngày 27/11/2023 thì tử vong, H và chị T4 không bị thương tích gì, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
