|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 10/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Sơn; ông Nguyễn Văn Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang; Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng; Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở UBND xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST, ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12/03/1990, tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố I, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Văn L; Sinh năm 1967 và bà: Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1970; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: + Bản án số 05/2022/HSST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích do phạm tội mới.
+ Bản án số 59/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp “Tái phạm”). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 28/3/2023 và chấp hành các nội dung khác của bản án nhưng chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, (Có mặt).
2. Họ và tên: Lê Sỹ H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/11/2002, tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Sỹ Đ1; Sinh năm: 1976 và bà: Võ Thị H2; Sinh năm: 1980; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Tôn Thị T1; Sinh năm: 2004 và 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Bị hại: - Ông Nguyễn Quang V; Sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt);
- Anh Nguyễn Thế T2; Sinh năm: 1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt);
- Bà Lê Thị Â; Sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị T3; Sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng, (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt);
- Ông Tăng Văn T4; Sinh năm: 1962; Địa chỉ: Xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 có mối quan hệ bạn bè, quen biết với nhau, đều là các đối tượng không có công việc ổn định. Vào chiều ngày 23/01/2024, do thiếu tiền tiêu xài nên Trần Văn Đ chuẩn bị các dụng cụ bắt trộm chó rồi gọi điện thoại rủ Lê Sỹ H1 cùng nhau thực hiện hành vi trộm chó, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, H1 đồng ý.
Khoảng 06 giờ ngày 26/01/2024, Trần Văn Đ cầm theo các dụng cụ bắt trộm chó rồi gắn biển kiểm soát 38N5-8625 (do trước đó Đ nhặt được trên đường) chồng lên biển kiểm soát 37B2-557.08 của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen (xe thuộc sở hữu của Trần Văn Đ), điều khiển xe đi đến nhà Lê Sỹ H1 ở xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Do Lê Sỹ H1 không biết sử dụng súng bắn điện và không biết cách bắt trộm chó nên Trần Văn Đ giao cho H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37B2-557.08 chở Đ ngồi phía sau cầm súng bắn điện để đi bắt trộm chó. Cả hai thống nhất điều khiển xe mô tô đi theo các tuyến đường, tìm kiếm những con chó đi trên đường, tại nơi vắng vẻ, không có ai trông coi thì H1 sẽ điều khiển xe mô tô lại gần, Đ ngồi phía sau dùng súng điện tự chế bắn vào con chó, làm con chó bất tỉnh rồi Đ xuống xe dùng băng dính, quấn mồm chó lại, bỏ vào bao tải màu đen, để phía trước vị trí H1 ngồi rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường, tiếp tục tìm kiếm những con chó khác để bắt trộm.
Với cách thức, thủ đoạn như trên, sáng ngày 26/01/2024, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 đã bắt trộm được 04 con chó trên hai địa bàn xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 bắt được 01 con chó màu xám đen, giống cái, nặng 10 kilôgam của ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1965, trú tại thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh;
- Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi bắt được con chó đầu tiên, Lê Sỹ H1 tiếp tục điều khiển xe mô tô 37B2-557.08 chở Trần Văn Đ ngồi phía sau, đi đến khu vực nghĩa trang Đ2 thuộc thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và cùng bắt trộm được 01 con chó màu vàng trắng, giống đực, nặng 13 kilôgam của anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh;
- Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi bắt trộm được con chó của anh Nguyễn Thế T2, Lê Sỹ H1 điều khiển xe mô tô 37B2-557.08 chở Trần Văn Đ ngồi phía sau đi đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây, cả hai tiếp tục bắt trộm được 01 con chó màu xám, giống đực, nặng 12 kilôgam của bà Lê Thị Â, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh;
- Lần thứ tư: Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi bắt trộm được con chó của bà Lê Thị Â, Lê Sỹ H1 điều khiển xe mô tô 37B2-557.08 chở Trần Văn Đ ngồi phía sau đi đến địa phận thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây cả hai bắt được 01 con chó màu đen, giống cái, nặng 13 kilôgam của bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1971, trú tại thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khi bắt được 04 con chó như trên, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 thống nhất tìm nơi tiêu thụ chó để bán lấy tiền, tuy nhiên, trên đường đi về thì gặp Tổ công tác của Công an xã Lưu Vĩnh S đang đi tuần tra nên đã bỏ chạy. Tổ công tác nhận thấy hai đối tượng có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành bắt giữ, thu giữ trên xe mô tô 37B2-557.08 một bao tải màu đen bên trong chứa 04 con chó còn sống cùng nhiều công cụ, dụng cụ khác. Công an xã L đã đưa Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 cùng các tang vật về trụ sở làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các tang vật, tiến hành xác minh người bị hại.
Sau đó, Công an xã L đã giao người bị bắt cùng các tang vật liên quan cho CQCSĐT Công an huyện T để xử lý theo quy định của pháp luật. Tại CQCSĐT Công an huyện T, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá số 08/KLĐG ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện T, kết luận:
- - 01 (một) con chó màu xám đen, giống cái, cân nặng 10 kilôgam, tình trạng còn sống có giá trị: 700.000 đồng;
- - 01 (một) con chó màu vàng trắng, giống đực, cân nặng 13 kilôgam, bị tật chân sau bên trái, tình trạng còn sống, có giá trị: 910.000 đồng;
- - 01 (một) con chó màu xám, giống đực, cân nặng 12 kilôgam, tình trạng còn sống, có giá trị: 840.000 đồng;
- - 01 (một) con chó màu đen, giống cái, cân nặng 13 kilôgam, tình trạng còn sống, có giá trị: 910.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 3.360.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 34/KLĐG ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá UBND huyện T, kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - đen, mang biển kiểm soát 37B2-557.08, đã qua sử dụng là: 5.500.000 đồng.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ của vụ án: Khi bắt quả tang, Công an xã L đã tạm giữ những đồ vật sau:
- - 01 (một) con chó màu xám đen, giống cái, cân nặng 10 kilôgam, còn sống (thuộc sở hữu của ông Nguyễn Quang V);
- - 01 (một) con chó màu vàng trắng, giống đực, cân nặng 13 kilôgam, bị tật chân sau bên trái, còn sống (thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thế T2);
- - 01 (một) con chó màu xám, giống đực, cân nặng 12 kilôgam, còn sống (thuộc sở hữu của bà Lê Thị Â);
- - 01 (một) con chó màu đen, giống cái, cân nặng 13 kilôgam, còn sống (thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T3);
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37B2-557.08, số máy: 1S9A061782, số khung: RLCE1S9A0EY061770, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ) - Kèm giấy đăng ký xe;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0868378456, số IMEI 358253/04/830586/9, đã qua sử dụng (thu của Lê Sỹ H1);
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0877147039, số IMEI 358253/04/809380/4, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ);
- - 01 (một) biển kiểm soát 38N5-8625; 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh; 01 (một) ná cao su bằng gỗ; 01 (một) thanh kiếm bằng kim loại, có chiều dài 84 cm; 01 (một) bộ kích điện được để trong một chiếc túi da màu đen; 01 (một) mũi tên điện có cán làm bằng gỗ, một đầu gắn 02 thanh kim loại được đấu nối với một sợi dây điện có phích cắm; 01 (một) bao tải màu đen; 01 (một) cuộn băng dính màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng (đều thu của Trần Văn Đ).
Ngày 01/02/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu 04 con chó có đặc điểm nói trên. Đối với các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện T theo quy định.
Đối với chiếc súng bắn điện mà các bị can Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 khai dùng để bắn, bắt trộm chó, các bị can đã vứt trên đường bỏ chạy. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm ông Nguyễn Quang V, ông Nguyễn Thế T2, bà Lê Thị Â và bà Nguyễn Thị T3 sau khi nhận lại tài sản của mình đều không có yêu cầu bồi thường dân sự gì khác.
Với hành vi trên, tại cáo trạng số 36/CT-VKS-TH, ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Lê Sỹ H1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 27 (B) đến 30 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Sỹ H1 từ 09 (S) đến 12 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình quản lý trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Tịch thu, xử lý để nộp ngân sách nhà nước ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37B2-557.08, số máy: 1S9A061782, số khung: RLCE1S9A0EY061770, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ) - Kèm giấy đăng ký xe (theo Kết luận định giá số 58/KLĐG, ngày 25/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận có giá trị 5.500.000 đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0868378456, số IMEI 358253/04/830586/9, đã qua sử dụng (thu của Lê Sỹ H1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0877147039, số IMEI 358253/04/809380/4, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ); Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe là mô tô biển kiểm soát 37B2-557.08. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 38N5-8625; 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh; 01 (một) ná cao su bằng gỗ; 01 (một) thanh kiếm bằng kim loại, có chiều dài 84 cm; 01 (một) bộ kích điện được để trong một chiếc túi da màu đen; 01 (một) mũi tên điện có cán làm bằng gỗ, một đầu gắn 02 thanh kim loại được đấu nối với một sợi dây điện có phích cắm; 01 (một) bao tải màu đen; 01 (một) cuộn băng dính màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng (đều thu của Trần Văn Đ).
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận thống nhất như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiện dân sự.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo rất ăn năn, hối cải và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ tự rèn luyện bản thân, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về Hành vi, quyết định của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Trong sáng ngày 26/01/2024, tại các tuyến đường thuộc các địa phận thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; thôn T và thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 đã lén lút bắt trộm 04 con chó, có tổng giá trị 3.360.000 đồng của ông Nguyễn Quang V, anh Nguyễn Thế T2, bà Lê Thị Â và bà Nguyễn Thị T3, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong quá trình bỏ chạy, Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 bị Tổ công tác của Công an xã L, huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 là lén lút bắt trộm 04 con chó, có tổng giá trị 3.360.000 đồng, do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn Đ thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản khi Bản án số 05/2022/HSST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích và Bản án số 59/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự chưa được xóa án tích, nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Đánh giá vai trò các bị cáo thì bị cáo Trần Văn Đ là khởi xướng rủ rê, chuẩn bị công cụ, phương tiện và là người thực hành tích cực trong việc lấy trộm tài sản, bị cáo Lê Sỹ H1 đóng vai trò là người giúp sức tích cực cho Trần Văn Đ trong việc lấy trộm tài sản.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Sỹ H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Lê Sỹ H1 có ông nội Lê Sỹ T5 là Liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về tính chất hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hửu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương. Đối với bị cáo Trần Văn Đ có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do đó, cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo sau khi phạm tội đã nhận thức được lỗi lầm của mình, thành khẩn khai báo, bị cáo Lê Sỹ H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ông nội Lê Sỹ T5 là Liệt sỹ, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đề nghị đối với các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, trị giá tài sản chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi, trả lại cho bị hại, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hợp pháp. Việc trả lại vật chứng này của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét. Đối với các vật chứng còn lại là:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37B2-557.08, số máy: 1S9A061782, số khung: RLCE1S9A0EY061770, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ) – Kèm giấy đăng ký xe, (theo Kết luận định giá số 58/KLĐG, ngày 25/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận có giá trị 5.500.000 đồng). HĐXX xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên chiếc xe là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Nguyễn Thị T, quá trình bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội thì chị Nguyễn Thị T không biết, do đó áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu, xử lý để nộp ngân sách nhà nước phần trị giá tài sản của bị cáo trong tài sản chung của vợ chồng là ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B2-557.08. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B2-557.08;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0868378456, số IMEI 358253/04/830586/9, đã qua sử dụng (thu của Lê Sỹ H1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0877147039, số IMEI 358253/04/809380/4, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ), HĐXX xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu, xử lý để nộp ngân sách nhà nước;
- - 01 (một) biển kiểm soát 38N5-8625; 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh; 01 (một) ná cao su bằng gỗ; 01 (một) thanh kiếm bằng kim loại, có chiều dài 84 cm; 01 (một) bộ kích điện được để trong một chiếc túi da màu đen; 01 (một) mũi tên điện có cán làm bằng gỗ, một đầu gắn 02 thanh kim loại được đấu nối với một sợi dây điện có phích cắm; 01 (một) bao tải màu đen; 01 (một) cuộn băng dính màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng (đều thu của Trần Văn Đ), HĐXX xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, do đó áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS, tuyên tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 28 (Hai tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Sỹ H1 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/6/2024).
Giao bị cáo Lê Sỹ H1 cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu, xử lý để nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0868378456, số IMEI 358253/04/830586/9, đã qua sử dụng (thu của Lê Sỹ H1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, có gắn thẻ sim thuê bao số 0877147039, số IMEI 358253/04/809380/4, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ); ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37B2-557.08, số máy: 1S9A061782, số khung: RLCE1S9A0EY061770, đã qua sử dụng (thu của Trần Văn Đ), (có giấy đăng ký xe kèm theo, theo Kết luận định giá số 58/KLĐG, ngày 25/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận có giá trị 5.500.000 đồng).
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy ½ (một phần hai) trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B2-557.08.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 38N5-8625; 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh; 01 (một) ná cao su bằng gỗ; 01 (một) thanh kiếm bằng kim loại, có chiều dài 84 cm; 01 (một) bộ kích điện được để trong một chiếc túi da màu đen; 01 (một) mũi tên điện có cán làm bằng gỗ, một đầu gắn 02 thanh kim loại được đấu nối với một sợi dây điện có phích cắm; 01 (một) bao tải màu đen; 01 (một) cuộn băng dính màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng (đều thu của Trần Văn Đ).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/5/2024 (BL 243) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc các bị cáo Trần Văn Đ và Lê Sỹ H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- - VKSND huyện Thạch Hà;
- - Công an huyện Thạch Hà;
- - Chi cục THADS huyện Thạch Hà;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;
- - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
- - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - Văn phòng Tòa án;
- - Lưu HSVA+VT.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Lâm |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ và đồng phạm trộm cắp tài sản
