|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Tấn Tài.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Công Trung.
2/ Ông Nguyễn Hồng Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Truyền Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Diếp Phi P, sinh ngày 08/11/2000; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 08, đường C, khu phố 6, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Diếp Văn T, sinh năm 1978 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 01 người em sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 06/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tri áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 16 tháng (tại Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 06/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri); Ngày 19/12/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (tại Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 19/12/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B, chưa đóng phạt). Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/02/2024 cho đến nay tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Bị cáo có mặt tại tòa.
- Người làm chứng:
- Từ Tiểu Ph, sinh năm 2003; (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Nguyễn Văn N, sinh năm 1998; (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 328/T, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Hồ Phi H, sinh năm 2003; (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 431/AL, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Phạm Trần Phương D, sinh năm 1993; (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2023, thông qua trang mạng xã hội Facebook (không nhớ tên trang Facebook), Diếp Phi P đặt mua 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại, màu đen, trên súng có ghi ký hiệu “MADE IN CHINA” với giá 3.000.000 đồng, khoảng 05 ngày sau P nhận được khẩu súng qua dịch vụ vận chuyển xe khách ở Bến xe huyện Ba Tri rồi đem khẩu súng về nhà ở số 08, đường C, khu phố 6, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, cất giấu. P kiểm tra khẩu súng thì thấy nòng súng và ổ đạn bị rộng, không sử dụng được nên P tiếp tục lên trang mạng xã hội Facebook tên “Shel đồ em bé” mua thêm các ống shel với giá 700.000 đồng để gắn vào khẩu súng. Trong quá trình tháo lắp khẩu súng ổ quay bằng kim loại, Phụng làm lạc mất lò xo nên mua thêm 01 khẩu súng đồ chơi bằng nhựa giá 500.000 đồng, P tháo rời khẩu súng đồ chơi bằng nhựa lấy lò xo gắn vào khẩu súng ổ quay bằng kim loại. Sau đó, P lên trang mạng xã hội Facebook tên “Shop Minh Quân” đặt mua 30 viên đạn thể thao với giá 1.200.000 đồng. Sau khi có đạn, P đã sử dụng khẩu súng ổ quay bằng kim loại nhiều lần bắn thử 20 viên đạn nhưng P chỉ nhớ rõ 03 lần bắn thử đạn, không nhớ thời gian. Cụ thể: Lần thứ nhất, P bắn 02 viên đạn vào gốc dừa tại khu đất của ông Nguyễn Văn Trí thuộc ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; Lần thứ hai, bắn 01 viên đạn vào biển báo giao thông đường bộ tại đường vào Cụm Công nghiệp Thị trấn - An Đức thuộc xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, 02 lần này có Từ Tiểu Ph (là bạn gái của P) đi cùng nhìn thấy; Lần thứ ba, bắn thử 02 viên đạn vào gốc cây ở khu vực gần Nhà tang lễ huyện Ba Tri thuộc Tổ 12B, khu phố 6, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, lần này P rủ Hồ Phi H (là bạn của P) ra xem nên Hoàng nhìn thấy. Sau khi bắn thử đạn xong, P đem khẩu súng ổ quay bằng kim loại về để chung với nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời và cất trong phòng ngủ nhà của P. Số đạn còn lại P làm mất 04 viên, còn lại 06 viên P đem cất tại nhà của chị Phạm Trần Phương D ở ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre nhưng không nói cho chị D biết. Ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre khám xét nơi ở của chị D, do có liên quan trong vụ án khác, đã phát hiện thu giữ 06 viên đạn và mời P làm việc. Trưa ngày 15/12/2023, Từ Tiểu P đến phòng ngủ của Diếp Phi P thấy khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời để trên nền gạch, do sợ Công an đến khám xét nhà của Diếp Phi P sẽ bị xử phạt nên Từ Tiểu Ph lấy khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời để vào hộp giấy hiệu Revolver rồi điện thoại và đưa cho Nguyễn Văn N nhờ cất giúp. Đến khoảng 15 giờ ngày 16/12/2023, N kiểm tra hộp giấy thấy khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời nên đem đến giao nộp cho Công an huyện Ba Tri.
Vật chứng thu giữ:
- Diếp Phi P giao nộp: 01 điện thoại di động màu đen, đã qua sử dụng, hiệu Redmi 10, số IMEI 1: 867469058444620/01, IMEI 2: 867469058444638/01, kèm theo 02 sim số: 0987790792 và 0337340319.
- Tạm giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Diếp Phi P: 01 hộp giấy có chữ REVOLVER kích thước (20 x 33 x 07)cm.
- Tạm giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Trần Phương D: 06 viên đạn bằng kim loại có kích thước dài 2,5cm, đường kính 0,5cm.
- Nguyễn Văn N giao nộp: 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trên súng có ghi ký hiệu “MADE IN CHINA”, “357-MAG”, số súng "XYL230417026"; 02 thân súng bằng nhựa màu đen, trên thân súng có chữ “XIAO YUE LIANG”, “MADE IN CHINA”, hiện tại các thân súng đã bị tháo rời và bị bể vỡ nhựa; 02 chốt hãm ổ quay bằng kim loại, màu xám - đen; 01 ổ quay bằng kim loại màu xám, kích thước (41 x 39)mm, trên ổ quay có 06 buồng chứa đạn cỡ 6mm; 01 tay cầm bằng kim loại, bên ngoài được dán decal màu đen; 02 bộ phận cò súng bằng kim loại màu xám - đen; 01 bộ phận búa đập bằng kim loại màu xám - đen; 01 nòng súng cỡ 6,9mm, bên trong bằng kim loại màu vàng, bên ngoài bằng nhựa màu đen, trên nòng có ghi ký hiệu “357-MAG”; 02 khối kim loại không rõ hình dạng, có cùng kích thước (1,7 x 1,5 x 0,75)cm, màu xám - đen; 01 đoạn kim loại dạng trụ tròn, màu trắng, dài 7,2cm, một đầu có ren vặn; 01 đoạn kim loại không rõ hình dạng, dài 3cm, màu xám; 06 lò xo; 26 ốc vít bằng kim loại; 05 đoạn kim loại; 01 hộp giấy có chữ REVOLVER kích thước (20x33x07)cm.
Tại Kết luận giám định số 1924/KL-KTHS(Đ2) ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm, hiện tại khẩu súng đã được cải tạo lại buồng chứa đạn, nòng súng và bộ phận kim hỏa để bắn được với loại đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5)mm, khẩu súng trên có đầy đủ các bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
- Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 dùng bắn được với 06 viên đạn gửi giám định ký hiệu A2, A3, A4.
- 06 viên đạn gửi giám định ký hiệu A2, A3, A4 là đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5)mm, thuộc danh mục vũ khí thể thao và không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng cỡ nòng 5,6mm như: Toz8, súng ám sát hình bút..., các loại súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm và khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1.
- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A5, A6, A7, A8, A10, A11, A12, A13, A15, A16, A17, A18, A19 là các bộ phận, linh kiện của súng đồ chơi nguy hiểm.
- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A9 nguyên là ổ quay của súng đồ chơi nguy hiểm, có buồng chứa đạn cỡ 9,5mm. Hiện tại ổ quay đã được cải tạo lại buồng chứa đạn cỡ 6mm để lắp vừa với loại đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5)mm.
- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A14 nguyên là nòng của súng đồ chơi nguy hiểm, cỡ nòng 9,5mm. Hiện tại nòng súng đã được cải tạo lại thành nòng kim loại, cỡ nòng 6,9mm.
- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A20 không phải là các bộ phận, linh kiện của súng.
- Các bộ phận, linh kiện gửi giám định ký hiệu từ A5 đến A20 không lắp ráp được thành khẩu súng hoàn chỉnh để bắn được đạn nổ.
Trong lúc giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang sử dụng 03 viên đạn gửi giám định để bắn thực nghiệm, hoàn lại đối tượng giám định là 01 khẩu súng, 03 viên đạn, 03 vỏ đạn và các bộ phận, linh kiện gửi giám định.
Tại Bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSBT-P1 ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Diếp Phi P về “Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Diếp Phi P phạm “Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” đồng thời đề nghị HĐXX:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Diếp Phi P từ 02 năm đến 03 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trên thân súng có ghi ký hiệu "MADE IN CHINA", "357-MAG", số súng "XYL230417026"; 03 viên đạn và 03 vỏ đạn bằng kim loại để quản lý và xử lý theo quy định.
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 hộp giấy, 02 thân súng bằng nhựa màu đen, 02 chốt hãm ổ quay bằng kim loại màu đen, 01 ổ quay bằng kim loại màu xám, 01 tay cầm bằng kim loại, 02 bộ phận cò súng bằng kim loại màu xám, 01 bộ phận búa đập bằng kim loại màu xám, 01 nòng súng, 02 khối kim loại không rõ hình dạng, 01 đoạn kim loại dạng trụ tròn, 01 đoạn kim loại không rõ hình dạng, 06 lò xo, 26 ốc vít bằng kim loại và 05 đoạn kim loại là những bộ phận của súng đồ chơi nguy hiểm và không có giá trị sử dụng.
- + Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu đen cùng 2 sim do bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Diếp Phi P khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như nội dung Cáo trạng đã xác định. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 của bị cáo bị tạm giữa, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và những vật chứng khác thì yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, người làm chứng Từ Tiểu Ph trình bày: Chị là bạn gái của bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là đúng với sự thật về những tình tiết liên quan đến vụ án mà chị biết và chị đã khai báo đầy đủ, trung thực tại Cơ quan An ninh điều tra. Đối với hành vi của chị như: Lấy khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời của bị cáo P để nhờ Nguyễn Văn N cất giúp để che giấu hành vi của bị cáo P và có xem bị cáo Diếp Phi P bắn thử súng nhưng lúc này chị không biết khẩu súng là vũ khí quân dụng và chưa biết bị cáo Diếp Phi P phạm tội.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa: Người làm chứng Nguyễn Văn, Hồ Phi H và Phạm Trần Phương D vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người làm chứng đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Căn cứ vào các điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng nêu trên trong vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Diếp Phi P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác do Cơ quan an ninh điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do không tuân thủ Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, nên khoảng tháng 8/2023, bị cáo Diếp Phi P đặt mua 01 khẩu súng ổ quay, bằng kim loại, màu đen, trên súng có ghi ký hiệu “MADE IN CHINA”, “357-MAG”, số súng “XYL230417026”, là vũ khí quân dụng và 30 viên đạn thể thao, bị cáo sử dụng khẩu súng này 03 lần bắn thử 20 viên đạn tại khu đất của ông Nguyễn Văn Trí thuộc ấp Giồng Ao, xã An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tại đường vào Cụm Công nghiệp Thị trấn - An Đức thuộc xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và khu vực gần Nhà tang lễ thuộc tổ 12B, khu phố 6, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, sau đó đem khẩu súng về nhà ở số 08, đường Chu Văn An, khu phố 6, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, cất giấu, đến ngày 14/12/2023 thì bị phát hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Diếp Phi P về “Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật bởi súng là loại vũ khí có tính sát thương cao, có khả năng gây thương tích và gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác, bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, sử dụng trái phép nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau ngày phạm tội bị cáo tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, hiện tại vẫn chưa đóng phạt. Điều đó, cho thấy bị cáo là người rất khó giáo dục, không có ý thức tự giác cải sửa bản thân. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trên thân súng có ghi ký hiệu "MADE IN CHINA", "357-MAG", số súng "XYL230417026"; 03 viên đạn và 03 vỏ đạn bằng kim loại là vũ khí quân dụng và là vật cấm tàng trữ nên cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre để quản lý và xử lý theo quy định.
- - Đối với 02 hộp giấy, 02 thân súng bằng nhựa màu đen, 02 chốt hãm ổ quay bằng kim loại màu đen, 01 ổ quay bằng kim loại màu xám, 01 tay cầm bằng kim loại, 02 bộ phận cò súng bằng kim loại màu xám, 01 bộ phận búa đập bằng kim loại màu xám, 01 nòng súng, 02 khối kim loại không rõ hình dạng, 01 đoạn kim loại dạng trụ tròn, 01 đoạn kim loại không rõ hình dạng, 06 lò xo, 26 ốc vít bằng kim loại và 05 đoạn kim loại là những bộ phận của súng đồ chơi nguy hiểm và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu đen cùng 2 sim do bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với các bộ phận, linh kiện của khẩu súng đồ chơi bằng nhựa đã được bị cáo Phụng tháo rời là đồ chơi nguy hiểm, do không lắp ráp được thành khẩu súng hoàn chỉnh để bắn được đạn nổ nên không đủ cơ sở để xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm”, theo quy định tại điểm đ, khoản 3, điều 11, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp với quy định pháp luật.
[9] Đối với Từ Tiểu P có hành vi lấy khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời nhờ Nguyễn Văn cất giúp để che giấu hành vi của bị cáo Diếp Phi P và có xem bị cáo Diếp Phi P bắn thử súng nhưng lúc này Từ Tiểu Ph không biết khẩu súng là vũ khí quân dụng, chưa biết bị cáo Diếp Phi P phạm tội nên không xử lý Từ Tiểu Ph về các tội “Che giấu tội phạm” và “Không tố giác tội phạm”, theo quy định tại Điều 389 và 390 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định pháp luật.
[10] Đối với Hồ Phi H, có xem bị cáo Diếp Phi P bắn thử súng nhưng H không biết khẩu súng là vũ khí quân dụng, không biết bị cáo Diếp Phi P phạm tội nên không xử lý về tội “Không tố giác tộ phạm”, theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định pháp luật.
[11] Đối với Nguyễn Văn N, có hành vi cất giấu khẩu súng ổ quay bằng kim loại mà bị cáo Diếp Phi P tàng trữ, sử dụng, nhưng do khi Từ Tiểu P nhờ cất giúp N không kiểm tra nên không biết, đến khi kiểm tra phát hiện khẩu súng ổ quay bằng kim loại và nhiều linh kiện của khẩu súng đồ chơi bị tháo rời thì N đem giao nộp ngay cho Công an huyện Ba Tri nên không phạm tội là phù hợp với quy định pháp luật.
[12] Đối với những người bán và giao súng, đạn cho bị cáo Diếp Phi P, do không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan An ninh điều tra không mời làm việc được, khi phát hiện làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.
[13] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Diếp Phi P phạm “Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng".
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Diếp Phi P 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trên thân súng có ghi ký hiệu "MADE IN CHINA", "357-MAG", số súng "XYL230417026"; 03 viên đạn và 03 vỏ đạn bằng kim loại để quản lý và xử lý theo quy định.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 hộp giấy, 02 thân súng bằng nhựa màu đen, 02 chốt hãm ổ quay bằng kim loại màu đen, 01 ổ quay bằng kim loại màu xám, 01 tay cầm bằng kim loại, 02 bộ phận cò súng bằng kim loại màu xám, 01 bộ phận búa đập bằng kim loại màu xám, 01 nòng súng, 02 khối kim loại không rõ hình dạng, 01 đoạn kim loại dạng trụ tròn, 01 đoạn kim loại không rõ hình dạng, 06 lò xo, 26 ốc vít bằng kim loại và 05 đoạn kim loại.
- - Tịch thu ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu đen cùng 2 sim.
(Theo Quyết định số 53/QĐ-BCH ngày 15/4/2024 về việc nhập trang bị của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre) và Phiếu nhập kho số NKTV.28 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;
Buộc bị cáo Diếp Phi P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tấn Tài |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về hình sự (tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do không tuân thủ Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, nên khoảng tháng 8/2023, bị cáo Diếp Phi P đặt mua 01 khẩu súng ổ quay, bằng kim loại, màu đen, trên súng có ghi ký hiệu “MADE IN CHINA”, “357-MAG”, số súng “XYL230417026”, là vũ khí quân dụng và 30 viên đạn thể thao, bị cáo sử dụng khẩu súng này 03 lần bắn thử 20 viên đạn tại khu đất của ông Nguyễn Văn Trí thuộc ấp Giồng Ao, xã An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tại đường vào Cụm Công nghiệp Thị trấn - An Đức thuộc xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và khu vực gần Nhà tang lễ thuộc tổ 12B, khu phố 6, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, sau đó đem khẩu súng về nhà ở số 08, đường Chu Văn An, khu phố 6, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, cất giấu, đến ngày 14/12/2023 thì bị phát hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Diếp Phi P về “Tội tàng trữ, sử8 dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
