Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC


Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 04 – 5 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đắc Tạo

Bà Phạm Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 04/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/TLST-HS ngày 22/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 08/4/2024 và thông báo dời ngày xét xử ngày 3/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Minh T – sinh năm 1990, tại TP .; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Nguyễn Văn N; Sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1969. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993. Con có 02 con lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 06/8/2020 bị Công an huyện L, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 135/QĐ về hành vi “Đánh bạc”, với số tiền: 1.500.000 đồng. Ngày 19/8/2020, T đã chấp hành nộp phạt số tiền trên.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  2. Ngô Hoài P – sinh năm 2001, tại tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp V, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12. Con ông: Ngô Văn C; sinh năm: 1973 và Dương Thị N1; sinh năm: 1975. Bị cáo có vợ tên Trần Thị Ánh T1, sinh năm 2003; Con có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 01/3/2023 bị Công an xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 17/QĐ về hành vi “Đánh bạc” phạt số tiền: 1.500.000 đồng. Ngày 02/3/2023, P đã chấp hành nộp phạt.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  3. Vũ Đình N2 – sinh năm 1987, tại tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 08/12. Con ông: Vũ Văn H2; sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị M; sinh năm: 1960; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 08/05/2020 bị Công an huyện L ra Quyết định xử phạt hành chính số: 105/QĐ-XPVPHC về hành vi: “Đánh bạc”, với số tiền 1.500.000 đồng. Đến nay N2 chưa thi hành nộp phạt.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa

  4. Vũ Văn C1 – sinh năm 1972, tại tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp A, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12. Con ông: Vũ Văn T2; sinh năm: 1933 và bà Nguyễn Thị D; sinh năm: không rõ (Hiện đã chết). Bị cáo có vợ tên Lê Thị L, sinh năm 1978. Con có 02 con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  5. Bùi Ngọc L1 – sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 06/12. Con ông: Bùi Ngọc L2; sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị G; sinh năm: 1972. Bị cáo có vợ tên Trần Thị Thùy T3 – sinh năm 1996. Con có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  6. Nguyễn Văn T4 – sinh năm 1995, tại TP . Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ G, ấp V, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 01/3/2023 bị Công an xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 20/QĐ về hành vi “Đánh bạc” phạt số tiền: 1.500.000 đồng. Ngày 05/06/2023, T4 đã chấp hành nộp phạt.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  7. Nguyễn Thế H3 – sinh năm 1973, tại tỉnh Quảng Nam; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ B, ấp B, xã T, huyện H,tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 00/12. Con ông: Nguyễn Hữu D1; không rõ năm sinh hiện đã chết và Huỳnh Thị T5; không rõ năm sinh. Bị cáo có vợ tên Chu Thị N3, sinh năm 1979, có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, bị bắt quả tang và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 được trả tự do; ngày 12/10/2023 bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  8. Nguyễn Đức H4− sinh năm 1995, tại tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở hiện nay: ấp V, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông: Nguyễn Văn T6, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N4; sinh năm 1969. Bị cáo có vợ tên Thạch Thị N5, sinh năm 2003, có 01 người con, sinh năm 2023; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 01/3/2023 bị Công an xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 16/QĐ về hành vi “Đánh bạc” phạt số tiền: 1.500.000 đồng. Ngày 05/06/2023, H4 đã chấp hành nộp phạt.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, sau đó bỏ trốn; đến ngày 20/11/2023 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

  9. Phan Thanh N6 – sinh năm 1980, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Tý H. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: tổ D, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 03/12. Con ông: Phan Thanh H5; sinh năm: 1940 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1; sinh năm: 1945. Bị cáo có vợ tên Trần Thị L3; sinh năm: 1983, con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 06/10/2023 có hành vi Đánh bạc, sau đó bỏ trốn; đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam, đến ngày 07/01/2024 thì bị bắt và tạm giam đến 20/02/2024, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h00' ngày 06/10/2023, Nguyễn Minh T, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Đức H4, Phan Thanh N6 cùng đi đến nhà Nguyễn Thế H3 ở tổ B, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước để xem dê và nói chuyện mua bán dê. Sau khi bàn bạc xong, cả nhóm rủ nhau cùng đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài “Cào tố”. Sau đó H3 đi mua bài 01 cây bài Tây (gồm 10 bộ bài) rồi lấy 01 cái chiếu màu đỏ-xám; 01 tấm bạt nylong màu xanh-cam, tiếp đó trải tấm bạt xuống nền xi măng trong chuồng nuôi dê rồi trải chiếc chiếu lên trên tấm bạt rồi cùng nhau ngồi chơi đánh bạc.

Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Văn T4 và Vũ Đình N2 đến chuồng nuôi dê nhà H3, thấy đang đánh bạc thì tham gia vào cùng đánh bạc. N2 đi đến ngồi bên trái của N6 xem đánh bạc thì N6 nói: “mày chơi dùm tao mấy cây chứ tao đen quá”. N2 nghe vậy thì đồng ý rồi dùng tiền của N6 chơi khoảng 6-7 ván bài thì đưa bài lại để N6 tiếp tục đánh bạc, N2 ngồi bên cạnh N6 tham gia đánh bạc bằng cách đặt ké tiền cược vào tụ bài của N6. Còn T4 thấy mọi người đánh bạc thì nảy sinh ý định tham gia và đi đến ngồi bên phải L1 nói với L1: “cho tao bốc mấy cây”, nghĩa là chơi giùm cho L1 vài ván bài thì L1 đồng ý đứng dậy, T4 ngồi vào chỗ của L1, cầm bài và dùng tiền của L1 chơi khoảng 10 ván thì thua khoảng 400 nghìn đồng. Thấy T4 thua, L1 nói: “mày đi ra ngoài đi, tao đánh cho”, T4 nhường lại vị trí cho L1 và nói: “cho tao ké năm chục” nghĩa là T4 tham gia đánh bạc bằng cách ké tiền cược vào tụ bài của L1.

Khoảng 30 phút sau, Ngô Hoài P và Huỳnh Văn T7 đến chuồng nuôi dê nhà H3 . Thấy cả nhóm đang đánh bạc thì P đi đến ngồi phía sau bên phải của T, tham gia đánh bạc bằng cách ké tiền cược vào tụ bài của T. Còn T7 không tham gia đánh bạc mà ngồi trên ghế bên cạnh chiếu bạc xem mọi người đánh bạc.

Vị trí ngồi của từng người như sau: Ngay lối đi vào chuồng dê thì Nguyễn Minh T ngồi ở ngay lối vào, quay lưng ra ngoài, theo thứ tự lần lượt về bên phải là Ngô Hoài P - V - P - V – Nguyễn Đức H4 – Bùi Ngọc L1 – Nguyễn Văn T4 – Nguyễn Thế H3 - Huỳnh Văn T7 (ngồi trên ghế inox phía sau Hiệp xem đánh bạc).

Cách thức đánh bạc: Những người tham gia đánh bài sử dụng một bộ bài tây, loại 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 03 lá bài, tất cả người chơi trong chiếu phải đặt tiền trước khi bắt đầu là 50 nghìn đồng. Sau đó, người chơi sẽ tính tổng số điểm của ba lá bài lại để xem bài mình mạnh hay yếu. Sau khi tính điểm xong, người chia bài là người đi lượt đầu tiên. Tùy theo số điểm cao hay thấp mà người đi lượt đầu tiên sẽ tố thêm tiền cược, tiền tố thêm của mỗi ván bài nhỏ nhất là 50 nghìn đồng và cao nhất là 200.000 nghìn đồng. Sau đó, những người đi lượt tiếp theo căn cứ vào bài mình mà “Úp bài” (nghĩa là bỏ cuộc, sẽ bị mất tiền cược trước đó, những người chơi khác sẽ vẫn tiếp tục cho đến khi tìm được người thắng cuộc) hoặc “Theo” (nghĩa là đặt cược một số tiền bằng con số của người đặt trước đã đặt để tiếp tục ván bài) hoặc “Tố” (nghĩa là đặt thêm tiền cược cao hơn con số của người đặt trước đã đặt. Khi này tiền cược được đẩy lên cao hơn và người chơi tiếp theo nếu muốn theo phải bỏ ra số tiền cược tương ứng. Cứ như vậy cho đến hết vòng, khi này bài của ai lớn hơn người đó sẽ là người thắng là lấy hết số tiền cược ở giữa sòng.

Quy định cách thắng thua như sau:

  • Lớn nhất là S: Là bộ 3 lá giống nhau. Trong trường hợp hai người nhận được bài S thì người có Sáp cao hơn sẽ là người chiến thắng. Thứ tự các lá bài sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn là 2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A;
  • Tiếp theo là L4: Là bộ 3 lá bài liên tiếp nhau. Trường hợp hai người đều có liêng bằng nhau sẽ tiến hành so chất bài theo thứ tự từ cao đến thấp là Cơ, R, C2 và B;
  • Tiếp theo là Ảnh: Là bộ ba lá bài (J, Q hoặc K bất kì). Trong trường hợp cả hai người chơi cùng có Ảnh sẽ tiến hành so chất bài, với thứ tự từ lớn đến bé C3, R, C2 và B. Nếu chất bài bằng nhau thì tiến hành so sánh đến các quân bài theo thứ tự từ thấp đến cao J, Q, K;
  • Tiếp theo là Đ: Trường hợp 3 lá bài không phải Sáp, L4 hay Ảnh thì sẽ tiến hành tính điểm. Bằng cách lấy tổng điểm của 3 lá bài, lấy số dư sau cộng lại. Đối với các lá bài từ 2 đến 9 sẽ có số điểm tương ứng. Lá bài A sẽ được tính là 1 điểm, các lá bài 10, J, Q, K đều được tính là 0 điểm.

Cả nhóm cùng ngồi đánh bạc liên tục đến khoảng 13h40 cùng ngày, khi đang chia bài để chơi ván mới thì bị Công an xã T bắt quả tang. Thấy Công an, Phan Thanh N6 và Nguyễn Đức H4 bỏ chạy hướng ra vườn nhà H3 trốn thoát, những người còn lại bị bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau:

Nguyễn Minh T: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 1.700.000 đồng. T dùng hết số tiền 1.700.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của T có số tiền 1.700.000 đồng, số tiền này T đang dùng để đánh bạc, trên người T không có tiền, T không thắng, không thua.

Ngô Hoài P: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 600.000 đồng. P dùng hết số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của P có số tiền 800.000 đồng, số tiền này P đang dùng để đánh bạc, trên người P không có tiền Phong thắng được số tiền 200.000 đồng.

Vũ Đình N2: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 645.000 đồng. N2 dùng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 145.000 đồng N2 không dùng để đánh bạc mà cất trong người để tiêu xài cá nhân. N2 chơi đánh bạc bằng cách đặt tiền cược ké vào tụ bài của N6. Khi chơi thua hết số tiền 500.000 đồng thì N2 nghỉ chơi và ngồi bên cạnh chiếu bạc xem mọi người đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của N2 không có tiền, trên người có số tiền 145.000 đồng, số tiền này N2 không dùng để đánh bạc, Nam thua số tiền 500.000 đồng.

Vũ Văn C1: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 1.510.000 đồng. C1 dùng tất cả số tiền 1.510.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của C1 có số tiền 160.000 đồng, số tiền này C1 đang dùng để đánh bạc, trên người C1 không có tiền, C1 thua số tiền 1.350.000 đồng.

Bùi Ngọc L1: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 1.555.000 đồng. L1 dùng tất cả số tiền 1.555.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của L1 có số tiền 3.855.000 đồng, số tiền này L1 đang dùng để đánh bạc, trên người Liêu không có tiền, L1 thắng số tiền 2.300.000 đồng.

Nguyễn Văn T4: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 570.000 đồng. T4 dùng hết số tiền 570.000 đồng để đánh bạc bằng cách ké vào tụ bài của L1, khi thắng tiền T4 cất tiền vào trong người. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của T4 không có tiền, trong người T4 có số tiền 670.000 đồng, số tiền này T4 dùng để đánh bạc, T4 thắng số tiền 100.000 đồng.

Nguyễn Thế H3: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 1.250.000 đồng. H3 dùng số tiền 700.000 đồng để đánh bạc, số tiền 550.000 đồng H3 không dùng để đánh bạc mà cất ở trong người để tiêu xài cá nhân. Khi chơi thua hết số tiền 700.000 đồng thì H3 nghỉ chơi và ngồi bên cạnh chiếu bạc xem mọi người đánh bạc và thu tiền xâu. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của H3 không có tiền, trong người H3 có số tiền 1.050.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng là tiền xâu, 550.000 đồng bị cáo H3 không dùng để đánh bạc, H3 thua 700.000 đồng, thu được tiền xâu 500.000 đồng.

Nguyễn Đức H4: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 400.000 đồng. H4 dùng hết số tiền 400.000 đồng để đánh bạc. Khi chơi thua hết số tiền 400.000 đồng thì H4 nghỉ chơi và ngồi bên cạnh chiếu bạc xem mọi người đánh bạc. Khi thấy Công an ập vào bắt quả tang, H4 đứng dậy rồi bỏ chạy thoát, H4 thua số tiền 400.000 đồng.

Phan Thanh N6: Khi bắt đầu đánh bạc trên người có số tiền 200.000 đồng. N6 dùng hết số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Khi thấy Công an bắt quả tang, N6 đã thua hết số tiền 200.000 đồng và đứng dậy bỏ chạy thoát, N6 thua số tiền 200.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền các con bạc sử dụng đánh bạc là: 8.185.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Hoài P, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thế H3, Nguyễn Đức H4, Phan Thanh N6 về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên Tòa các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Hoài P, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thế H3, Nguyễn Đức H4, Phan Thanh N6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị mức hình phạt cụ thể như sau:

Áp dụng điểm s, i, khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58, khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T số tiền từ 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) đến 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Hoài P số tiền từ 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đình N2 số tiền từ 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) đến 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn C1 số tiền từ 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Ngọc L1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 số tiền từ 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H3 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H4 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng)

Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thanh N6 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng)

Về xử lý vật chứng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát như sau:

  • Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền mặt: 8.185.000₫ số tiền các bị cáo đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 01 cái chiếu cỏ màu đỏ-xám, kích thước 1,57m x 1,9m; 01 tấm bạt nylong, một mặt màu xanh, một mặt màu cam, kích thước 3,8m x 5,6m; 01 hộp bài tây bên trong có 05 bộ bài Tây – loại 52 lá còn nguyên vẹn.
  • Đối với số tiền thu giữ của bị cáo Vũ Đình N2 là 145.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Thế H3 550.000 đồng do số tiền trên cả hai bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên ngày 13/11/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho Vũ Đình N2 và Nguyễn Thế H3 do đó không đề cập đến.
  • 01 xe mô tô biển số: 93F1-395.63 là tài sản của anh Huỳnh Văn T7 đứng tên chủ sở hữu, T7 không tham gia đánh mà chỉ ngồi xem, do xác định đây không phải là vật chứng vụ án. Ngày 13/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nêu trên cho anh Huỳnh Văn T7 nên không đề cập đến.
  • 01 xe mô tô biển số: 93P1-872.40 là tài sản của bị cáo Nguyễn Minh T. Vào ngày 06/10/2023, T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T4 và Bùi Ngọc L1 đến nhà bị cáo Nguyễn Thế H3 để xem dê sau đó thì L1 ngồi tham gia đánh bạc, do xe mô tô trên không phải là phương tiện phạm tội. Nên căn cứ điểm a, khoản 03, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nêu trên cho bị cáo Nguyễn Minh T theo quy định nên không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi sai phạm theo pháp luật của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận cụ thể toàn bộ hành vi phạm tội của mình, căn cứ diễn biến, hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo đã xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/10/2023, Nguyễn Minh T, Ngô Hoài P, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thế H3, Nguyễn Đức H4 và Phan Thanh N6 cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Cào tố”, thắng thua bằng tiền, tại chuồng nuôi dê của bị cáo Nguyễn Thế H3 ở tổ B, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước đến 13 giờ 40 thì bị Công an xã T bắt quả tang. Quá trình điều tra chứng minh được số tiền của các bị cáo dùng để đánh bạc tại chiếu bạc và trên người các bị cáo như sau:

Nguyễn Minh T: dùng số tiền 1.700.000₫ đồng để đánh bạc. Ngô Hoài P dùng hết số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Vũ Đình N2 dùng hết số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Vũ Văn C1: dùng số tiền 1.510.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, tại vị trí ngồi của C1 có số tiền 160.000 đồng. Bùi Ngọc L1: dùng tất cả số tiền 1.555.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, L1 thắng số tiền 2.300.000 đồng, tại vị trí ngồi của L1 có số tiền 3.855.000 đồng. Nguyễn Văn T4: có số tiền 670.000 đồng khi bị bắt, số tiền này T4 dùng để đánh bạc. Nguyễn Thế H3: dùng số tiền 700.000 đồng để đánh bạc, thu giữ có 500.000 đồng là tiền xâu H3 đã thu của các con bạc. Nguyễn Đức H4: dùng hết số tiền 400.000 đồng để đánh bạc. Phan Thanh N6: dùng hết số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, H4, N6 thua hết, bỏ chạy. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.185.000 đồng.

[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên Tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; sơ đồ hiện trường; biên bản khám xét cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án đã được thu thập có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi đánh bạc của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nên cần xem xét xử lý hình phạt tương xứng với từng hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đây là vụ án có nhiều bị cáo cùng tham gia nhưng mang tính đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức, giữa các bị cáo không có sự phân công, phân nhiệm, cấu kết, chặt chẽ mà chỉ rủ rê cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “Cào tố”, ván thấp nhất người chơi đặt 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Trong đó tính chất, vai trò các bị cáo thể hiện cụ thể như sau:

- Đối với Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Phan Thanh N6 cùng nhau tham gia vào việc đánh bạc, tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trên chiếu bạc là 8.185.000 đồng, do đó vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau nên mức độ xử phạt cũng như nhau. Riêng bị cáo Nguyễn Minh T, Vũ Đình N2 đã bị xử phạt hành chính năm 2020, mặc dù được coi là không có tiền sự nhưng cũng cần xử lý nghiêm khắc hơn các bị cáo Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1 và Phan Thanh N6.

- Đối với bị cáo Ngô Hoài P, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Đức H4 là người có tiền sự bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên cần xem xét xử lý nghiêm khắc hơn các bị cáo khác, để giáo dục các bị cáo không vi phạm pháp luật về sau.

- Đối với bị cáo Nguyễn Thế H3 ngoài việc tham gia đánh bạc, bị cáo cũng là người mua bài, sắp xếp chỗ, lấy chiếu và còn yêu cầu người đánh bạc phải nộp tiền xâu trên mỗi ván thắng là 50.000đ, H3 thu được tổng cộng 500.000đ tiền xâu, tuy hành vi trên của bị cáo H3 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định tại Điều 322 bộ luật hình sự, nhưng cũng thể hiện việc vai trò tích cực hơn các bị cáo khác nên cần xem xét mức xử phạt riêng với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Minh T, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Thế H3, và Phan Thanh N6 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng các bị cáo Nguyễn Minh T và Vũ Đình N2 tuy đã bị xử phạt hành chính từ năm 2020 nhưng đến nay được xem là người chưa có tiền sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình, quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Để thể hiện sự nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình đã gây ra, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Ngô Hoài P, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Đức H4 tuy có tiền sự bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng xét các tình tiết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự và xét tất cả các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, quá trình điều tra ngoài bị cáo Nguyễn Đức H4, các bị cáo khác đều đã có thời gian tạm giữ, tạm giam như vậy cũng đủ sức để răn đe giáo dục đối với các bị cáo, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không làm phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không gây ảnh hưởng tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Do đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử lý hình phạt tiền là hình phạt chính tương xứng với từng bị cáo như đã nhận định ở trên là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3, Điều 321, Bộ luật Hình sự 2015.

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề xuất hình phạt tiền là có căn cứ chấp nhận. Về mức hình phạt được Hội đồng xem xét chấp nhận tương ứng với từng hành vi của các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh trách nhiệm Dân sự.

[9] Xử lý vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa và bản cáo trạng đã đề cập về xử lý vật chứng.

[10] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Hoài P, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thế H3, Nguyễn Đức H4, Phan Thanh N6 phạm tội “ Đánh bạc”
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm s, i khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T số tiền là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Ngô Hoài P số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Vũ Đình N2 số tiền là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Vũ Văn C1 số tiền là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc L1 số tiền là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H3 số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H4 số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
    • Xử phạt bị cáo Phan Thanh N6 số tiền là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước số Tiền mặt: 8.185. 0000đ. (Theo giấy nộp tiền của Công an huyện H tại Ngân hàng N7 Chi nhánh huyện H, Tây B ngày 22/2/2024)
    • Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 01 cái chiếu cỏ màu đỏ-xám, kích thước 1,57m x 1,9m; 01 tấm bạt nylong, một mặt màu xanh, một mặt màu cam, kích thước 3,8m x 5,6m; 01 hộp bài tây bên trong có 05 bộ bài Tây – loại 52 lá còn nguyên vẹn.

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0005966 ngày 22/02/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục hi hành án Dân sự huyện H)

  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

    Các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Hoài P, Vũ Đình N2, Vũ Văn C1, Bùi Ngọc L1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thế H3, Nguyễn Đức H4, Phan Thanh N6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;
  • - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Lưu trữ;- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger