Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS - PT

Ngày 03/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Nguyễn Duy Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXX-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, do có kháng cáo của người bị hại và đại diện gia đình người bị hại.

Bị cáo không kháng cáo: Đoàn Hữu T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện P, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đoàn Hữu T1 và bà Nguyễn Thị M; Có vợ là Hoàng Thị D và 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

Bị hại:

Chị Nguyễn Thị N (đã chết)

Bị hại kháng cáo:

Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại kháng cáo:

Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội; Có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại: Luật sư Đỗ Hữu Đ, Luật sư Lê Thị H và Luật sư Nguyễn Thanh T2 thuộc Công ty L - Đoàn Luật sư Thành phố H; Luật sư Đ và Luật sư H có mặt; Luật sư T2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 08 giờ 55 phút, ngày 20/4/2023 Đoàn Hữu T điều khiển xe ô tô BKS: 29H-445.37, kéo rơmooc BKS: 29R-517.85 đi từ Công ty TNHH một thành viên X, địa chỉ: phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên sang huyện K, tỉnh Hà Nam để lấy đá. Khi điều khiển xe ô tô Thuấn có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 14/5/2020. Đến khoảng 09 giờ 05 phút, khi đi đến Km 70+380 QL38 cầu Y thuộc phường L, thành phố H, T điều khiển xe ô tô vượt bên phải 02 xe ô tô khác đi cùng chiều, lấn sang làn đường dành cho xe mô tô và thô sơ nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 19K1-184.16 do anh Nguyễn Văn V điều khiển đi cùng chiều, chở sau là chị Nguyễn Thị N (vợ anh V). Hậu quả làm chị Nguyễn Thị N tử vong tại chỗ, anh Nguyễn Văn V bị đa chấn thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi va chạm, T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi đến huyện K để lấy đá. Khi quay về, có nhìn thấy cơ quan Công an đang giải quyết vụ việc tai nạn tại cầu Y, nghĩ không liên quan nên T cho xe về trụ sở công ty B1 và tiếp tục đi Hà Nam lấy đá vào buổi chiều. Tuy nhiên, chưa lấy được đá thì T nhận được yêu cầu đưa xe quay trở về công ty để tiến hành làm việc liên quan đến vụ tai nạn giao thông

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 90/KLGĐTT-PC09 ngày 27/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chị Nguyễn Thị N, khám nghiệm ngày 20/4/2023, chết là do: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, trên người đang mang thai. Thể loại chết: Không tự nhiên .

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 89/2023/KLTTCT ngày 24/5/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở Y, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn V tại thời điểm giám định là 55%, cơ chế hình thành thương tích là do tác động với dạng vật cứng và chà xát với vật cứng hoặc nền cứng gây nên .

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cho Đoàn Hữu T kiểm tra, xem nội dung 01 file video do anh Hoàng B Việt giao nộp, bản thân T thừa nhận điều khiển xe ô tô, vượt bên phải xe ô tô khác trên cầu Y, dẫn đến va chạm, ép vào bên trái xe mô tô do anh V điều khiển gây tai nạn. Tuy nhiên Thuấn không cảm nhận được có sự việc va chạm với xe mô tô của anh Nguyễn Văn V nên mới tiếp tục điều khiển xe di chuyển đi khỏi hiện trường. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện, thể hiện: Trước khi vượt 02 xe ô tô, Thuấn có nhìn thấy xe mô tô do anh V điều khiển; bên phải xe ô tô do T điều khiển đã va chạm vào xe mô tô do anh V điều khiển dẫn đến xe mô tô bị đổ nên mặt đường, thành cầu để lại nhiều dấu vết cầy, trà sát do xe mô tô gây lên, vết dài nhất có kích thước (21,2 x 0,08)m. Khi tham gia giao thông, chị Nguyễn Thị N có đội mũ bảo hiểm, sau khi xảy ra tai nạn, mũ bảo hiểm bị dập vỡ; xương hộp sọ bị rập vỡ trên diện rộng, làm mất tổ

chức xương hộp sọ, kích thước (20 x 10)cm, tổ chức não bật ra ngoài, làm đầu biến dạng, bẹp từ trước ra sau; gẫy 1/3 xương đùi phải; hai bánh xe ô tô dính máu của chị N. Có đủ cơ sở khẳng định khi xảy ra va chạm, xe mô tô bị đổ và bị xe ô tô ép vào thành cầu, kéo rê, trượt trên mặt đường, 21,2m; bánh xe ô tô chèn lên mũ bảo hiểm, đầu của chị N. Vì vậy có căn cứ xác định T phải biết có sự va chạm giữa hai xe ô tô và mô tô .

Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa bị cáo Đoàn Hữu T đã bồi thường tính mạng và sức khỏe người bị hại tổng số tiền 400.000.000đ. Bị hại và người đại diện bị hại không đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS - ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã tuyên xử bị cáo Đoàn Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Hữu T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/02/2024, bị hại anh Nguyễn Văn V và người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại anh Nguyễn Văn M1 kháng cáo tăng hình phạt và không cho bị cáo T được hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đoàn Hữu T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để chăm sóc gia đình.

Người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo từ 6 năm đến 7 năm tù.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội là rất nghiêm trọng; bị cáo phạm tội đối với phụ nữ có thai. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh V và anh M1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị hại và người đại diện của người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị hại và người đại diện của gia đình người bị hại được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Hữu T: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của người bị hại; biên bản khám nghiệm cùng sơ đồ hiện trường, kết luận pháp y, kết luận giám định tổn thương, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 20/4/2023, tại Km 70+380 QL38 cầu Y thuộc phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Đoàn Hữu T điều khiển xe ô tô BKS 29H - 445.37, kéo rơmooc BKS 29R - 517.85 đi theo hướng từ thành phố H đi Hà Nam đã không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô vượt bên phải 02 xe ô tô khác đi cùng chiều, lấn sang làn đường dành cho xe mô tô và thô sơ nên xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 19K1 - 184.16 do anh Nguyễn Văn V điều khiển đi cùng chiều, chở phía sau là chị Nguyễn Thị N. Hậu quả làm chị N tử vong tại chỗ, anh V bị tổn thương cơ thể 55%; xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 1.310.000 đồng. Sau khi va chạm do hoảng sợ nên T tiếp tục điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường, sau đó đã khai nhận vụ việc với cơ quan điều tra.

Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã xét xử bị cáo T về tội ”Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo tăng hình phạt và không cho bị cáo được hưởng án treo của bị hại và người đại diện, thì thấy: Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo T, sau khi va chạm với xe mô tô của người bị hại, mặc dù cho xe rời khỏi hiện trường, nhưng T không có các hành động xóa dấu vết trên phương tiện, thay đổi hành trình nhằm làm lạc hướng, gây khó khăn cho việc điều tra, làm rõ sự việc. Đồng thời, T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho

người bị hại; đại diện người bị hại tại phiên tòa sơ thẩm có quan điểm đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ Đoàn Hữu T3 (bác ruột Thuấn); có đơn đề nghị trình bày hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo đã chết, mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị M đang bị suy tim; u nhĩ phải thường xuyên điều trị nội và ngoại trú tại Bệnh viên tim H1; bị cáo có 03 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình được UBND xã xác nhận và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị cáo T phạm tội với lỗi vô ý, sau khi phạm tội đã kịp thời khắc phục toàn bộ thiệt hại, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được đại diện gia đình người bị hại đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm là phù hợp, đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

Do đó, kháng cáo của bị hại và người đại diện không có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Văn V và người đại diện của gia đình người bị hại anh Nguyễn Văn M1.
  2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS - ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Đoàn Hữu T như sau:
    • + Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • + Về điều luật áp dụng: Điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • + Xử phạt: Bị cáo Đoàn Hữu T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 05 tháng 02 năm 2024.

Giao bị cáo Đoàn Hữu T cho UBND xã P, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Đoàn Hữu T.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật T hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần

trở lên, thì Tòa án có quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • + Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Đoàn Hữu T làm công việc lái xe ô tô trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Các phần khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND TP Hưng Yên (2);
  • - VKSND TP Hưng Yên;
  • - CA TP Hưng Yên ;
  • - Chi cục THADS TP Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HС./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Tuấn Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS - PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 31/2024/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐOÀN HỮU TH PHẠM TỘI “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger