|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày 01 - 08 - 2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Tư
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Minh Thắng
Ông Bùi Nhật Đại
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và bà Nông Thị T, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 05 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang.
- Bị đơn: Anh Đặng Trọng A, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: Chị và anh Đặng Trọng A lấy nhau từ năm 2007 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Sau khi cưới anh chị làm nhà ra ở riêng tại thôn P, xã Đ, huyện B. Quá trình vợ chồng chung sống luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong cuộc sống luôn bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không có sự chia sẻ động viên lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày, dẫn đến xảy ra xô sát, xúc phạm, chửi bới lẫn nhau. Anh Đặng Trọng A suốt ngày rượu chè, không tu trí làm ăn, khi say rượu thường đánh đập chị, khiến chị tổn thương cả về thể xác và tinh thần, chị không cảm thấy an toàn khi ở nhà, nên từ tháng 4 năm 2023 chị đã bỏ đi làm ăn xa cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, có níu kéo cũng không hạnh phúc nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Trọng A.
Về phía bị đơn, tại bản tự khai anh Đặng Trọng A trình bày: Anh và chị Hoàng Thị N tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ từ năm 2007 theo quy định của pháp luật. Sau khi lấy nhau anh chị làm nhà ra ở riêng tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, trong gia đình không có chuyện gì xảy ra, đến năm 2022 anh A bị tai biến, liệt nửa người đi lại rất khó khăn, không giúp gì được cho vợ, chị N đã đi làm công ty để kiếm tiền trang trải cuộc sống hàng ngày cho gia đình. Nay chị Hoàng Thị N làm đơn xin ly hôn với anh, anh không nhất trí ly hôn, do anh bị tai biến cần người nuôi dưỡng, các con còn quá nhỏ chưa biết gì, còn đang đi học, không muốn các con phải khổ, nên anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A đều khai nhận, quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/01/2013. Khi ly hôn chị Hoàng Thị N có nguyện vọng được là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 2 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn anh Đặng Trọng A, không nhất trí ly hôn, nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/6/2024, chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A không thống nhất được về quan hệ hôn nhân, con chung cần phải giải quyết trong vụ án. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con chung cũng như tình trạng bệnh tai biến của bị đơn tại chính quyền địa phương để ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Hoàng Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung, chị N đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đặng Trọng A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/3/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Gia B với mức là 1.000.000đ/tháng. Phương thức cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Người nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu B là anh Đặng Trọng A. Về tài sản, công nợ chung chị Hoàng Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành và tuân thủ đúng pháp luật tố tụng thực hiện đúng nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội;
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Đặng Trọng A.
- + Về con chung: Đề nghị xử giao cho chị Hoàng Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đặng Trọng A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/3/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị N cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Gia B với mức là 1.000.000đ/tháng. Phương thức cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Người nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu B là anh Đặng Trọng A.
- + Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Xét thấy, trong vụ án này nguyên đơn và bị đơn đều trú tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B Hội đồng xét xử thấy rằng, chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A lấy nhau năm 2007 trên cở sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, do đó cuộc hôn nhân giữa hai anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án chị N và anh A đều xác nhận trong thời gian chung sống từ tháng 4 năm 2023 giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị N là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh A thường xuyên uống rượu không tu trí làm ăn, khi say rượu thường đánh đập chị, khiến chị tổn thương cả về thể xác và tinh thần, không thấy an toàn khi ở nhà và chị cũng đã sống ly thân anh A từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, sống với nhau cũng không hạnh phúc, nên chị N vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh A. Còn anh Đặng T1 A cho rằng năm 2022 anh bị tai biến, liệt nửa người đi lại khó khăn, không làm được gì, từ tháng 4 năm 2023 chị N bỏ đi làm công ty, nay chị N làm đơn xin ly hôn anh A không nhất trí.
[4] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và trên cơ sở biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống chung giữa chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A đã luôn xảy ra mâu thuẫn, anh chị cũng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Về tình trạng sức khỏe của anh Đặng Trọng A cũng đã hồi phục dần và đi lại bình thường, mặt khác kể từ khi chị N bỏ đi làm công ty từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, không có chị N ở nhà, anh A sống cùng các con, vẫn tự lo được cho cuộc sống hàng ngày. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Đặng Trọng A.
[4] Về con chung: Trên cơ sở lời khai của nguyên đơn, bị đơn cùng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định được quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/01/2013. Do chị N, anh A không thỏa thuận thống nhất được việc nuôi con chung. Vì vậy, căn cứ vào nguyện vọng của các cháu và để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho chị Hoàng Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đặng Trọng A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/3/2013 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị N, cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Gia B với mức là 1.000.000đ/tháng, phương thức cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Người nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu B là anh Đặng Trọng A.
[5] Về tài sản và công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N.
Xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Đặng Trọng A. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Xử giao cho chị Hoàng Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Thùy P, sinh ngày 28/8/2007 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đặng Trọng A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Gia B, sinh ngày 31/3/2013 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Gia B với mức là 1.000.000đ/tháng, phương thức cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Người nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu B là anh Đặng Trọng A.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung chị Hoàng Thị N, anh Đặng Trọng A có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang theo biên lai số 0002081, ngày 02 tháng 05 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án sao hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Thị Tư |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị N và anh Đặng Trọng A "Ly hôn, tranh chấp nuôi c
