Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-PT.

Ngày 15/8/2024.

V/v: “Tranh chấp chia tài sản sau

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương

Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 15/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2024/TLPT-HNGĐ ngày 16/4/2024 về việc: “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2024/QĐ-PT ngày 31/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐ-PT ngày 12/6/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 08/2024/QĐ-PT ngày 05/7/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 09/2024/QĐ-PT ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 1983. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Chị Thân Thị K1, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang

- Người đại diện theo ủy quyền của chị K1: Anh Lê Văn H, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hoài M, sinh năm 1956 (có mặt)
  2. Bà Phạm Thị S, sinh năm 1958 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

    - Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông M, bà S: Luật sư Nguyễn Văn T - Chi nhánh Công ty L; địa chỉ: Số C đường Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (có mặt)

  3. Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  4. Ngân hàng C, chi nhánh tỉnh B, Phòng giao dịch, huyện T

    Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Ngọc P - Phó giám đốc Phòng giao dịch huyện C. (vắng mặt).

  5. UBND xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H1, công chức địa chính xã V, huyện T (vắng mặt).

  6. UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang,

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tuấn A - Phó trưởng phòng tài nguyên và Môi trường huyện T. (vắng mặt).

* Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân K; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp theo, nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân K trình bày:

Năm 2004 anh kết hôn với chị K1, năm 2022 anh chị được Tòa án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết ly hôn, nuôi con chung tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 212/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2022 không giải quyết về chia tài sản chung. Nay giữa anh và chị K1 không thể tự thỏa thuận được, nên anh đề nghị Tòa án chia tài sản chung của anh và chị K1 trong thời kỳ hôn nhân.

Anh xác định tài sản chung của anh và chị K1 gồm: 01 căn nhà cấp 4 làm năm 2019, 01 căn nhà cấp 4 làm năm 2010, nhà tắm + nhà vệ sinh và cây trồng như M1, B, N, N1, X trồng trên đất.

Đối với tài sản là đồ dùng sinh hoạt và cây trồng trên đất hai bên tự thỏa thuận.

Tài sản là thửa đất theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo năm 2022 là 6.055m² trên đất bãi vỡ hoang ở thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang của ông Nguyễn Hoài M và bà Phạm Thị S là bố mẹ đẻ anh.

Thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất còn có 01 Ao to do ông M, bà S đào trước năm 2000 và 01 Ao nhỏ do anh Nguyễn Xuân T1 là em trai anh đào khoảng năm 2009, vợ chồng chỉ có công sức cải tạo Ao to, trên đất còn một số cây bạch đàn do vợ chồng ông M, bà S trồng tháng 3/2023, anh và chị K1 không còn tài sản chung nào khác.

Tài sản riêng: Anh xác định 01 xe máy Winetx của hãng H2 da anh mua năm 2020.

Về công nợ chung: Anh và chị K1 nợ Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền 80.000.000 đồng. Sau khi ly hôn đã anh trả tự trả bằng tiền riêng của anh được 13.000.000đồng tiền gốc hiện còn nợ 67.000.000đồng tiền gốc. Ngoài ra anh và chị K1 không còn khoản vay nợ chung nào khác.

Nay anh đề nghị chia tài sản chung của anh và chị K1 theo quy định pháp luật và đề nghị được giao nhà và công trình xây dựng anh sẽ trả tiền cho chị K1. Anh đề nghị Toà án xác nhận tài sản riêng của anh là 01 xe máy Hon da Winetx, đất Ao, đất và trồng cây cối lâm lộc là của ông M, bà S. Buộc chị K1 phải trả cho anh 40.000.000 đồng nợ ngân hàng, tiền lãi anh tự trả không yêu cầu chị K1 phải ngân hàng cùng anh.

* Bị đơn chị Thân Thị K1 trình bày: Chị nhất trí về điều kiện ly hôn như anh K trình bầy là đúng. Do chị và anh K không thể tự thỏa thuận giải quyết chia tài sản chung, nên chị đề nghị Tòa án chia tài sản chung của chị và anh K trong thời kỳ hôn nhân.

Tài sản chung gồm: 01 căn nhà cấp 4 làm năm 2019, 01 căn nhà cấp 4 làm năm 2010, nhà tắm, nhà vệ sinh, công trình phụ, 01 xe máy Honda Winetx mua năm 2020, một số cây ăn quả như cây Mít, B, N, N1, X tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất trên có nguồn gốc của ông, M, bà S cho chị và anh K ra ở riêng năm 2005, chị và anh K quản lý và khai hoang thêm được diện tích đất như hiện tại. Đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có 1 ao to và 01 ao nhỏ. 01 Ao to có từ trước khi chị và anh K ra ở riêng và 01 ao nhỏ do chị và anh K đào năm 2009 và cải tạo Ao to. Trên đất còn một số cây Bạch đàn do vợ chồng ông M, bà S trồng tháng 3/2023. Ngoài các tài sản trên chị và anh K không còn tài sản chung nào khác.

Về nợ chung: Chị và anh K nợ Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền 80.000.000đồng. Chị xác nhận đây là nợ chung, đồng ý trả anh K 40.000.000đồng để anh K trả Ngân hàng.

Chị đề nghị chia tài sản cho chị phần đất có nhà và công trình xây dựng để chị có chỗ ở và nuôi 02 con, chị trả cho anh K tài sản bằng tiền.

* Ông Nguyễn Hoài M và bà Phạm Thị S người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ anh K. Tháng 3/2005 ông bà cho anh chị tách khẩu ra ở riêng trên diện tích đất bãi tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang của ông bà khai hoang khoảng năm 1990, trên đất đã có 01 nhà ở tạm và 01 Ao to. Đến nay diện tích đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2005 anh chị xây dựng nhà cấp 4 và công trình phụ, có một số cây cối lâm lộc do anh K và chị Kim t. Ông bà chỉ cho anh chị ở nhờ, không cho đất, khi anh chị làm nhà ông bà không đồng ý nhưng anh chị cứ xây nên ông bà không có ý kiến gì.

Đầu năm 2023 khi anh chị ly hôn ông bà có trồng khoảng 1.000 cây bạch đàn, ông bà đề nghị Toà án buộc chị K1, anh K tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại đất cho ông bà. Đối với giá trị cây Bạch Đàn trồng trên đất anh K, chị K1 thoả thuận là 10.000.000 đồng, ông bà nhất trí.

* Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C do ông Dương Ngọc P, Phó giám đốc Phòng giao dịch, đại diện theo quyền trình bày: Ngày 8/8/2020 Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C cho gia đình anh Nguyễn Xuân K vay theo chương trình cho vay hộ nghèo số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất 6,6%/năm, lãi suất quá hạn là 130% anh K trả 13.000.000 đồng tiền gốc, hiện anh K chị K1 còn nợ tiền gốc là 67.000.000 đồng. Đối với khoản tiền anh K chị K1 vay, Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Xuân K là người đứng tên vay vốn có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

- Anh Nguyễn Xuân T1 trình bày: Anh là em ruột anh K năm 2009 anh được bố mẹ cho đào ao nhỏ trên đất vỡ hoang của gia đình để thả cá. Sau khi đào xong thì anh không sử dụng nên anh K và chị K1 sử dụng, anh không yêu cầu xem xét về khoản tiền đào ao của anh. Năm 2009 bố mẹ cho anh thả cá ao to do bố mẹ anh đào từ khoảng năm 2000. Việc xác định ao trên là của bố mẹ anh hay của anh K chị K1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh xác định không có liên quan gì trong vụ án.

* Đại diện UBND xã V, huyện T và đại diện UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang thống nhất trình bày: Khu đất hộ anh K chị K1 được ông Nguyễn Hoài M bà Phạm Thị S cho sử dụng xây nhà, trồng cây lâu năm nằm trong tờ bản đồ 67, các thửa đất 76; 90; 91; 92; 104; 105; 106; 107 bản đồ địa chính đo đạc năm 2002; trong đó thửa 76 là đất ao diện tích 2.673,7m²; các thửa còn lại diện tích khoảng 2.128m².

Theo ông Nguyễn Hoài M cung cấp và chính quyền thôn Đ xác nhận thì khu đất ông M, bà S cho anh K, chị K1 sử dụng có nguồn gốc vợ chồng ông M khai hoang từ năm 1990, năm 2000 một phần ông M đào ao nuôi cá, một phần cải tạo thành các ô thửa để canh tác sản xuất nông nghiệp.

Theo hồ sơ địa chính lưu giữ tại xã: Bản đồ giải thửa năm 1999 khu đất anh K chị Kim thuộc một phần thửa 395, tờ bản đồ 08 diện tích 45.440m². Xem Sổ mục kê tờ bản đồ 08, bản đồ giải thửa năm 1999 không thể hiện trong sổ mục kê thửa đất 395, diện tích 45.440m². Bản đồ địa chính năm 2003 thể hiện thửa 76 diện tích 2.673,7m², thửa 90 diện tích 320,1m², thửa 91 diện tích 396,0m², thửa 92 diện tích 425,3m², thửa 104 diện tích 181,5m², thửa 105 diện tích 286,5m², thửa 106 diện tích 346,2m², thửa 107 diện tích 172,4m² và một phần thửa 119 diện tích khoảng 120m² thuộc tờ bản đồ số 67, bản đồ địa chính đo đạc năm 2002. Do là đất nông nghiệp nên năm 2002 sau đo đạc bản đồ không thể hiện các thửa trong sổ mục kê năm 2003. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.

* Kết quả định giá tài sản ngày 7/9/2023 như sau:

  • + 01 nhà cấp 4 lợp tôn lạnh trị giá: 202.763.000 đồng.
  • + 01 nhà ngang lợp tôn xây dựng năm 2009 trị giá 22.272.000 đồng;
  • + 01 mái vẩy tôn diện tích 17,4m² trị giá 3.471.000 đồng;
  • + 01 công trình phụ (nhà tắm + vệ sinh) trị giá 3.780.000 đồng;
  • + Cây Bạch đàn trị giá 10.000.000 đồng;
  • + 01 xe mô tô hiệu Winnerx = 15.000.000 đồng anh K đang quản lý.
  • + Đất trồng cây có giá là 45.000 đồng/m². Ao đào có giá trị là 30.000 đồng/m³.

Giá đất nông nghiệp theo quyết định số: 72 ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B là 50.000 đồng/m²; đất nông nghiệp chuyên nhượng thực tế tại địa phương là 18.000.000 đồng/01 sào (360m²) = 50.000 đồng/m².

Ngoài ra anh chị không yêu cầu định giá tài sản nào khác.

* Với nội dung nêu trên, Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 264, khoản 1 Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 33, Điều 59; khoản 2 Điều 62 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 213, Điều 219, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân K và yêu cầu phản tố của chị Thân Thị K1 về việc chia tài sản chung sau ly hôn.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hoài M và bà Phạm Thị S về yêu cầu giá trị cây Bạch đàn trồng trên đất. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông M, bà S xác định diện tích đất Ao, đất nông nghiệp đã làm công trình xây dựng và trồng cây cối lâm lộc là tài sản của ông bà.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng C, Chi nhánh tỉnh B, Phòng giao dịch huyện C xác định anh Nguyễn Xuân K, chị Thân Thị K1 còn nợ tiền gốc tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền gốc là 67.000.000 đồng và lãi suất kèm theo.

Tạm giao cho anh Nguyễn Xuân K quản lý khu vực đất nằm ở phía Bắc của mảnh đất diện tích 4.796,4m² có các điểm như sau: Phía Đông Bắc điểm 34, 33, 32, 31, 30, 29 đến điểm 28; phía T có các điểm 28, 27, 26 đến điểm 25; phía Tây Nam điểm 25, 24, 23, 22, 21, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 14, 13 đến điểm 12; phía Đông Nam điểm 12 đến điểm 34. (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Anh K được sở hữu các cây cối lâm lộc trên đất, được quản lý Ao to, Ao nhỏ diện tích tổng diện tích là 4.242,7m² giá trị = 160.977.000 đồng; diện tích đất nông nghiệp trồng cây 553,7m² = 27.685.000 đồng; giá trị cây bạch đàn trồng trên đất = 10.000.000 đồng; được sở hữu 01 xe mô tô hiệu Winnerx mầu xanh đen BKS 98B3-479.42 = 15.000.000 đồng. Tài sản anh K quản lý là 213.662.000 đồng nhưng anh K phải trả nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền 80.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất phát sinh (xác nhận anh K đã trả 13.000.000 đồng tiền gốc). Anh K phải trả cho ông M bà S giá trị cây Bạch đàn số tiền 10.000.000 đồng.

Anh Nguyễn Xuân K được hưởng tài sản là 123.662.000 đồng và được chị Thân Thị Kim t1 chia tiền chênh lệch về tài sản là 110.000.000 đồng. Tổng cộng anh K được hưởng tài sản là là 233.662.000 đồng.

Tạm giao cho chị Thân Thị K1 quản lý khu vực đất nằm ở phía Nam có các điểm như sau: Phía Tây Nam điểm 12, 10, 9, 8, 7 đến điểm 6; phía Đông Nam điểm 6, 5, 4 đến điểm 3; phía Đông Bắc điểm 3, 2, 1 đến điểm 34; phía Tây Bắc điểm 34 đến điểm 12. (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Chị K1 được sở hữu toàn bộ cây cối lâm lộc, công trình xây dựng, giếng khoan trên diện tích đất được tạm giao; diện tích đất 1.033.9m² = 51.695.000 đồng, 01 nhà ở cấp 4 lợp tôn lạnh, kèo sắt = 202.763.000 đồng, 01 nhà ngang lợp tôn = 22.272.000 đồng, 01 mái vẩy tôn = 3.471.000 đồng, 01 công trình phụ = 3.780.000 đồng. Tổng cộng tài sản chị K1 đang quản lý = 283.981.000 đồng chị K1 phải trích chia tiền chênh lệch về tài sản cho anh K là 110.000.000 đồng. Tài sản chị K1 được hưởng là 173.981.000 đồng.

Ranh giới phân chia đất được xác định là điểm nối từ điểm 34 đến điểm 12 dài 48,4m, C1 nằm giáp đường ranh giới nếu các bên không thoả thuận được thì chặt bỏ. (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

Ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S được nhận số tiền anh Nguyễn Xuân K trả giá trị cây Bạch đàn là 10.000.000 đồng.

Anh Nguyễn Xuân K phải trả khoản vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền gốc là 67.000.000 đồng và lãi suất phát sinh.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 11/3/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên kháng nghị bản án sơ thẩm đề nghị xác định nguồn gốc đất của ông bà tạm giao cho anh chị là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông bà. Không xem xét giá trị đất nông nghiệp để giải quyết là không đúng quy định. Tạm giao cho đương sự thiếu 225m2 đất theo tổng số đất tranh chấp, khoản nợ Ngân hàng không tuyên lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký.

- Ngày 11/3/2024 nguyên đơn anh Nguyễn Xuân K có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đề nghị hủy 1 phần bản án sơ thẩm do ảnh hưởng đến quyền lợi của anh. Xem xét lại về việc chia tài sản, trả đất cho ông bà, xe máy là tài sản riêng của anh, buộc chị K1 phải trả anh 40.000.000đồng nợ ngân hàng.

- Ngày 15/3/2024 ông Nguyễn Hoài m và bà Phạm Thị S kháng cáo đề nghị hủy 1 phần bản án sơ thẩm do ảnh hưởng đến quyền lợi của ông bà, buộc anh chị tháo dỡ nhà trên đất để trả đất cho ông bà.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Anh K trình bày: Anh rút yêu cầu đề nghị Tòa án hủy bản án sơ thẩm. Đề nghị trả lại cho bố mẹ anh diện tích đất 6.055,3m². Anh chị chỉ ở nhờ trên đất của ông bà. Anh chị có thỏa thuận miệng với ông bà, khi nào ông M, bà S đòi lại đất thì phải dọn đi chỗ khác. Đối với xe mô tô Honda nhãn hiệu Winer X màu xanh đen BKS 98B3-479.42 là tài sản riêng của anh, do anh dùng tiền riêng để trả góp không phải là tài sản chung vợ chồng. Khoản nợ của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C 80.000.000đồng anh đã trả 13.000.000đồng còn nợ gốc 67.000.000đồng. Yêu cầu chị K1 phải trả cho Ngân hàng 40.000.000đồng. Do bố mẹ anh đồng ý cho anh và chị Kim p đất có nhà trên đất diện tích khoảng 800m² nên anh đề nghị Hội đồng xét xử giao cho anh, anh đồng ý trả bằng tiền cho chị K1.

- Ông M, bà S và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông bà trình bày: Ông bà rút yêu cầu đề nghị Tòa án hủy bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án công nhận thửa đất 6.055,3m² là đất của ông bà và buộc anh K, chị K1 tháo dỡ tài sản trên đất trả lại cho ông bà. Do chị K1 có ở trên đất nên ông bà đồng ý cho chị K1, anh K phần đất có tài sản trên đất là nhà anh chị xây dựng diện tích khoảng 800m². Về việc định giá tài sản ông bà không có ý kiến gì.

- Chị K1 và người đại diện theo ủy quyền của chị K1 trình bày: Chị không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông M, bà S và anh K. Thửa đất ông M, bà S đã cho anh chị vì đã cho làm nhà và ở trên đất từ năm 2005 đến khi ly hôn năm 2022. Chị đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; chấp nhận một phần kháng cáo của ông M, bà S và anh K. Sửa bản án sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử:

Tạm giao cho ông M, bà S diện tích đất 3.327,3m² trên đất có tài sản gắn liền là diện tích ao 3.992,8m².

Tạm giao cho anh K 1.469,1m² đất trong đó có 1 ao nhỏ diện tích 1.373m². Giao cho anh K 01 xe mô tô mầu xanh đen BKS 98B3-479.42. Anh K có trách nhiệm trả ông M bà S 10.000.000đồng tiền cây bạch đàn và trả nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Bắc Giang tiền gốc là 67.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.

Tạm giao cho chị Thân Thị K1 các thửa đất gồm: Thửa thứ tư diện tích 999,3m²; thửa thứ 5 diện tích 36,9m²; thửa thứ 6 diện tích 85,7m²; thửa thứ 7 diện tích 14,1m²; thửa thứ 8 diện tích 88,3m². Thửa thứ 9 diện tích 34,6m². Tổng diện tích là: 1.258,9m². Trên toàn bộ thửa đất được tạm giao cho chị K1 có các tài sản gồm: 01 nhà ở cấp 4 lợp tôn lạnh, kèo sắt = 202.763.000 đồng; 01 nhà ngang lợp tôn = 22.272.000 đồng, 01 mái vẩy tôn = 3.471.000 đồng, 01 công trình phụ = 3.780.000 đồng và một số cây cối lâm lộc, giếng khoan.

Buộc chị K1 phải trả cho anh K tiền chệnh lệch tài sản là: 148.643.000đồng (trong đó 116.143.000đồng tiền nhà; 40.000.000đồng tiền ngân hàng và 7.500.000đồng tiền xe mô tô).

Buộc ông M bà S phải trả chị K1 41.193.000đồng tiền ao.

Buộc anh K phải trả ông M bà S 949.000đồng tiền ao.

Anh K được sở hữu 01 xe mô tô hiệu Winnerx mầu xanh đen BKS 98B3-479.42 trị giá 15.000.000 đồng.

Án phí sơ thẩm: Anh K, chị K1 phải chịu theo giá trị tài sản được chia, Ông M bà S là người cao tuổi nên miễn án phí cho ông bà.

Về án phí phúc thẩm: Ông M, bà S, anh K không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Xuân K, ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S về việc đề nghị xác định thửa đất là của ông bà và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện Tân Yên về việc xem xét giá trị đất nông nghiệp để giải quyết là không đúng quy định. Hội đồng xét xử thấy:

Về đất: Nguồn gốc diện tích 6.055,3m² (theo trích đo năm 2023) thuộc tờ bản đồ số 67, bản đồ địa chính đo đạc năm 2002 diện tích là 4.921,7m² là của ông M, bà S khai hoang từ trước năm 1995, khoảng năm 2000 đã cải tạo thành 01 ao và 01 nhà tạm. Năm 2005 anh K và chị K1 được ông M, bà S cho ra ở riêng trên diện tích đất trên. Năm 2010 anh chị xây dựng nhà và các công trình khác, năm 2019 xây dựng 01 nhà cấp 4 diện tích 85,7m², và cây trồng trên đất. Ngoài ra trên đất còn 1 ao to 3992,8m³ và 1 ao nhỏ 1373,1m³. Toàn bộ các thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình giải quyết vụ án ông M, bà S và anh K cho rằng ông bà chỉ cho anh K chị K1 ở nhờ chưa cho đất. Chị K1 cho rằng ông bà đã cho anh chị, các bên không đưa ra được tài liệu căn cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Hiện nay anh K và chị K1 đã xây dựng công trình, trồng cây trên đất và đang sinh sống trên thửa đất. Ông M, bà S đang ở chỗ khác. Do vậy Tòa án sơ thẩm xác định toàn bộ thửa đất ông M, bà S đã cho anh K, chị K1 là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M, bà S mà cần xác định thửa đất trên có nguồn gốc của ông M, bà S, ông bà cho anh K, chị K1 ở trên đất và xây dựng nhà, trồng cây trên đất từ năm 2000. Như vậy cần xác định thửa đất là ông M, bà S và anh K, chị K1 đều có công sức trông nom khai phá thêm thể hiện năm 2002 thửa đất chỉ có 4921,7m², hiện nay thửa đất là 6.055,3m² trị giá 302.765.000đồng nên cần xác định là của 4 người nhưng xét nguồn gốc của ông M, bà S và đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần tạm giao cho ông M, bà S khoảng 55% còn lại anh K 25% và chị Kim 2 các bên không ai phải trả tiền đất chênh lệch cho bên nào là đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự. Khi xem xét tạm giao đất cho ông M, bà S phải tính giá trị đất nông nghiệp để giải quyết trong vụ án này như quan điểm của UBND xã V và UBND huyện T và như quan điểm kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện Tân Yên và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

Đối với phần đất ao: Ao nhỏ do anh T1 là em trai anh K đào năm 2005, anh T1 đã cho vợ chồng anh K sử dụng từ nhiều năm trước đến khi ly hôn, ao to ông M, bà S đào từ năm 2000 diện tích nhỏ, năm 2009 anh chị cải tạo ao và đào rộng thêm ra nên xác định 02 ao là của anh K và chị K1 và ông bà. Đất nông nghiệp diện tích 3327,3m² trên đất có ao to 3.992,8m³ trị giá 119.784.000đồng; đất nông nghiệp diện tích 915,4m² trên đất có ao nhỏ 1373,1m³ trị giá 41.193.000đồng; tổng giá trị 02 ao là: 160.977.000đồng. Do thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần tạm giao phần đất có ao to cho ông M, bà S, phần đất có ao nhỏ và phần đất trồng cây bạch đàn và 1 phần thửa đất thứ 3 tạm giao cho anh K; còn lại thửa 5,6,7,8,9 tạm giao cho chị K1 là đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự. Phần đất ao ai nhận giá trị nhiều hơn phải trả tiền cho bên kia.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh K đề nghị giao toàn bộ đất và công trình xây dựng trên đất cho anh, anh sẽ có trách nhiệm chia công sức cho chị K1 bằng tiền. Hội đồng xét xử thấy: Chị K1, anh K không còn chỗ ở nào khác và anh chị cũng có nhu cầu sử dụng về đất ở nên Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao phần đất cho cả anh K và chị K1 và ông M, bà S là có căn cứ.

Đối với tài sản trên đất là tài sản chung của anh K, chị K1 cần chia cho mỗi người 1/2 cụ thể: 01 nhà cấp 4 lợp tôn lạnh trị giá: 202.763.000 đồng; 01 nhà ngang lợp tôn xây dựng năm 2009 trị giá 22.272.000 đồng; 01 mái vẩy tôn diện tích 17,4m² trị giá 3.471.000 đồng; 01 công trình phụ (nhà tắm + vệ sinh) trị giá 3.780.000 đồng.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Winnerx mầu xanh đen BKS 98B3-479.42 anh K cho rằng tài sản riêng của anh K. Hội đồng xét xử thấy: Xe được mua tháng 12/2020 thời hạn trả góp là 02 năm đến hết tháng 12/2022, số tiền này anh K đã trả xong vào tháng 12/2022. Ngày 16/11/2022 anh K và chị Kim ly h do vậy số tiền thanh toán trả tiền xe chỉ còn 01 tháng, anh K không yêu cầu xem xét về số tiền anh đã thanh toán trả tháng 12/2022. Tháng 11/2022 anh chị mới ly hôn, xe được mua trong thời gian anh chị còn đang tồn tại quan hệ hôn nhân và đang hòa thuận. Anh K cho rằng chiếc xe được mua bằng tiền riêng của anh còn chị K1 cho rằng chiếc xe được mua bằng tiền chung của hai vợ chồng. Ngoài việc anh chị trình bày ra thì anh chị không còn tài liệu chứng cứ gì khác chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ do vậy, Hội đồng xét xử xác định chiếc xe mô tô là tài sản chung của anh chị trị giá 15.000.000đồng anh K đang quản lý.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định tổng tài sản của anh K, chị K1 là: 247.286.000đồng. Tài sản riêng của ông M, bà S là cây Bạch Đàn trị giá 10.000.000đồng phần đất có cây bạch đàn tạm giao cho anh K nên buộc anh K phải trả ông bà số tiền trên.

[2]. Về công nợ:

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện Tân Yên về khoản nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C về việc không tuyên lãi suất theo thỏa thuận. Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên lãi suất theo chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự là không đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Bắc Giang tuyên lại về lãi suất của Ngân hàng cho đúng quy định của pháp luật.

Việc anh K cho rằng khoản vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C 80.000.000đồng (anh K đã trả 13.000.000đồng còn nợ gốc 67.000.000đồng). Anh yêu cầu chị K1 phải trả cho Ngân hàng 40.000.000đồng. Hội đồng xét xử thấy số tiền này được vay trong thời kỳ anh chị tồn tại quan hệ hôn nhân xác định là nợ chung vợ chồng. Tại phiên tòa chị K1 cũng đồng ý do anh K đề nghị được trả hết số nợ trên và Ngân hàng đồng ý nên chị K1 phải trả anh K 40.000.000đồng tiền gốc; buộc anh K phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn lại gốc là 67.000.000đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng. Buộc chị K1 phải trả cho anh K số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ.

[3]. Quá trình giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, Tòa án tỉnh Bắc Giang đã có công văn đề nghị UBND huyện T cung cấp thông tin trong vụ án:

Tại Văn bản số 146/TNMT-HT ngày 14/8/2024, người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T có văn bản trả lời: Khu đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do ông M, bà S khai hoang đất từ năm 1990, năm 2000 ông M đào ao nuôi cá một phần diện tích, phần còn lại ông cải tạo thành các ô thửa để canh tác sản xuất nông nghiệp. Năm 2005 ông M làm nhà tạm 02 gian và một trái bếp diện tích khoảng 25-30m², nền sân cơ vôi khoảng 40m² và cho vợ chồng anh K, chị Kim r ở riêng. Năm 2009 anh K, chị K1 mới xây tường nhà trên khung nhà cũ và làm thêm nhà diện tích 30m². Năm 2017 anh K, chị K1 tiếp tục làm nhà mới như hiện nay. Quá trình làm nhà gia đình anh K chưa lập hồ sơ xin phép cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng sang đất ở. Quá trình xây dựng không xin phép. Tuy nhiên UBND xã chưa lập hồ sơ xử lý việc xây dựng của gia đình anh K. Gia đình anh K xây dựng diễn ra nhiều thời điểm khác nhau, có thời điểm diễn ra sau ngày 01/7/2014 là vi phạm luật đất đai năm 2013, Luật đất đai năm 2024. Thửa đất là đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay thuộc đất quy hoạch khu đô thị nhà vườn sinh thái ven sông, nhà nước chưa giao đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án, chưa thực hiện việc giải phóng mặt bằng. Hội đồng xét xử thấy: Thửa đất có tài sản trên đất được xây dựng theo nhiều thời gian khác nhau có thời điểm xây dựng trước ngày 01/7/2014 và thời điểm xây dựng sau ngày 01/7/2014. Căn cứ quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CPvà điểm a khoản 5 Điều này được bổ sung bởi khoản 18 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CPthì việc xây nhà trên đất nông nghiệp trước ngày 01/07/2014 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được giải quyết như sau:

“Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.

Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định.”

Như vậy, thửa đất anh K, chị K1 đang sử dụng có tài sản trên đất được tạm thời sử dụng, phải giữ nguyên hiện trạng và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định nên Hội đồng xét xử chia tài sản trên đất và tạm giao đất cho ông M, bà S và anh K, chị K1 cụ thể như sau:

- Tạm giao cho ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S phần đất nông nghiệp được ghi là thửa thứ nhất diện tích 3.327,3m² (hiện trạng là ao) địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo thực tế là 6.055,3m²) trị giá tài sản: Đất nông nghiệp trị giá: 166.365.000đồng, trên đất có ao to 3.992,8m³ trị giá 119.784.000đồng. Tổng trị giá tài sản giao cho ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S là: 286.149.000đồng.

- Tạm giao cho anh Nguyễn Xuân K phần đất nông nghiệp được ghi là thửa thứ ba diện tích 915,4 m² trên đất có trên đất có ao nhỏ 1373,1m³ và thửa thứ hai diện tích 419,6m² (trên đất trồng cây Bạch Đàn trị giá 10.000.000đồng của ông M, bà S) và một phần thửa đất thứ tư diện tích 134,1m² địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo thực tế là 6.055,3m²). Tổng diện tích đất tạm giao cho anh K là: 1.469,1m² trị giá: 73.455.000đồng, ao nhỏ 1373,1m³ trị giá: 41.193.000đồng, 01 xe mô tô hiệu Winnerx mầu xanh đen BKS 98B3-479.42 trị giá 15.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản giao cho anh Nguyễn Xuân K là 139.648.000đồng (bao gồm tiền cây bạch đàn trị giá 10.000.000đồng)

- Tạm giao cho chị Thân Thị Kim p1 đất nông nghiệp gồm: Thửa thứ tư diện tích 999,3m²; thửa thứ 5 diện tích 36,9m²; thửa thứ 6 diện tích 85,7m²; thửa thứ 7 diện tích 14,1m²; thửa thứ 8 diện tích 88,3m², thửa thứ 9 diện tích 34,6m². Tổng diện tích chị K1 được tạm giao là: 1.258,9m² trị giá: 62.945.000đồng. Trên toàn bộ thửa đất được tạm giao có các tài sản gồm: 01 nhà ở cấp 4 lợp tôn lạnh, kèo sắt trị giá 202.763.000đồng; 01 nhà ngang lợp tôn trị giá 22.272.000đồng, 01 mái vẩy tôn trị giá 3.471.000đồng, 01 công trình phụ trị giá 3.780.000đồng và một số cây cối lâm lộc, giếng khoan. Tổng giá trị tài sản giao cho chị Thân Thị K1 là 295.231.000đồng.

Như vậy tài sản chung của anh K, chị K1 là 247.286.000đồng : 2 nên mỗi người được hưởng 123.643.000đồng và 40.244.000đồng đất ao nên mỗi anh chị được hưởng là 163.887.000đồng. Chị K1 phải trả anh K tổng số tiền 148.643.000đồng (trong đó: 40.000.000đồng để anh K trả nợ ngân hàng, 108.643.000đồng tiền chênh lệch tài sản chung).

Anh K phải trả ông M bà S 10.000.000đồng tiền cây bạch đàn.

Ông M bà S nhận số tiền ao to 119.784.000đồng nên ông M bà S phải trả tiền ao to cho chị K1 40.244.000đồng. Anh K nhận số tiền ao nhỏ 41.193.000đồng nên anh K phải trả cho ông M bà S 949.000đồng.

Anh K phải trả Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền gốc là 67.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.

(Có sơ đồ đo vẽ của các thửa đất kèm theo)

[4]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S và anh Nguyễn Xuân K. Sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang như nhận định đã nêu ở trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1, 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Hoài M bà Phạm Thị S và anh Nguyễn Xuân K. Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

1.1. Tạm giao cho ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S quản lý, sử dụng phần đất nông nghiệp có các cạnh tiếp giáp phía Đông giáp hộ ông Đinh Văn Q, phía Tây giáp đường bê tông, phía Nam giáp đất giao cho anh khôi, phía Bắc giáp đất của anh K2 gồm: Thửa thứ nhất diện tích 3.327,3m²; địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nằm trên thửa đất diện tích đất theo bản đồ đo đạc năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo thực tế là 6.055,3m²) trị giá: 166.365.000đồng (Thửa đất có các điểm tiếp giáp liên tục từ điểm 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 35, 18). Trên đất có tài sản gắn liền là ao to 3.992,8m³ trị giá: 119.784.000đồng. Tổng trị giá tài sản giao cho ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S là: 286.149.000đồng.

1.2. Tạm giao cho anh Nguyễn Xuân K quản lý, sử dụng phần đất nông nghiệp có các cạnh tiếp giáp: Phía Đông giáp đường đất và giáp hộ ông Đinh Văn Q, phía Tây giáp đường bê tông, phía Nam giáp đất giao cho chị K1, phía Bắc giáp đất giao cho ông M bà S gồm: Thửa thứ ba diện tích 915,4m² (tài sản trên đất diện tích 915,4m² là ao nhỏ 1373,1m³ trị giá 41.193.000đồng). Thửa thứ hai diện tích 419,5 m² (trên đất trồng cây Bạch Đàn trị giá 10.000.000đồng của ông M, bà S) và một phần thửa thứ tư diện tích 134,1m²; địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nằm trên thửa đất diện tích đất theo bản đồ đo đạc năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo thực tế là 6.055,3 m²). Tổng diện tích đất tạm giao cho anh K là: 1.469,1m² trị giá 73.455.000đồng. Giao cho anh Nguyễn Xuân K được sở hữu 01 xe mô tô hiệu Winnerx mầu xanh đen BKS 98B3-479.42 trị giá 15.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản giao cho anh Nguyễn Xuân K là 139.648.000đồng. (Thửa đất thứ hai có các điểm tiếp giáp liên tục từ điểm 33, 34, 36, 35, 33; Thửa đất thứ 3 có các điểm tiếp giáp liên tục từ điểm 35, 36, 37, 38, 39, 40, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 35; một phần thửa thứ tư có các điểm tiếp giáp liên tục từ 34, 36, 37, 38, 39, 40, 12, 34.

1.3. Tạm giao cho chị Thân Thị K1 quản lý, sử dụng phần đất nông nghiệp có các cạnh tiếp giáp phía Đông giáp đường đất, phía Tây giáp đường bê tông, phía Nam giáp đường đất, phía Bắc giáp đất giao cho anh K gồm: một phần thửa thứ tư diện tích 999,3m²; thửa thứ năm diện tích 36,9m²; thửa thứ sáu diện tích 85,7m²; thửa thứ bảy diện tích 14,1m²; thửa thứ tám diện tích 88,3m², thửa thứ chín diện tích 34,6m² (nằm trên thửa đất diện tích đất theo bản đồ đo đạc năm 2002 diện tích 4.921,7m², đo thực tế là 6.055,3m²). Tổng diện tích chị K1 được tạm giao là: 1.258,9m² trị giá: 64.675.000đồng. Trên toàn bộ thửa đất được tạm giao của chị K1 có các tài sản gồm: 01 nhà ở cấp 4 lợp tôn lạnh, kèo sắt trị giá 202.763.000 đồng; 01 nhà ngang lợp tôn trị giá 22.272.000 đồng, 01 mái vẩy tôn trị giá 3.471.000 đồng, 01 công trình phụ trị giá 3.780.000 đồng và một số cây cối lâm lộc, giếng khoan. Tổng giá trị tài sản giao cho chị Thân Thị K1 là 295.231.000đồng.

(Một phần thửa thứ tư có các điểm tiếp giáp liên tục từ điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 34, 1. Trong thửa đất này có các thửa đất ghi thửa thứ năm có các điểm: 46, 47, 53, 54, 46; thửa thứ sáu có các điểm: 41, 42, 43, 44, 41; thửa thứ bảy có các điểm: 45, 46, 47, 48, 45. Thửa thứ tám có các điểm: 49, 50, 51, 52, 49; Thửa thứ chín có các điểm: 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 5)

(Có sơ đồ đo vẽ của các thửa đất kèm theo bản án)

Ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S, anh Nguyễn Xuân K, chị Thân Thị K1 đang sử dụng đất thuộc quy hoạch được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật.

Buộc chị Thân Thị K1 phải trả cho anh Nguyễn Xuân K tiền chệnh lệch tài sản là: 148.643.000đồng.

Buộc ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S phải trả chị Thân Thị K1 40.244.000đồng tiền ao.

Buộc anh Nguyễn Xuân K phải trả cho ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S số tiền 949.000đồng tiền ao và 10.000.000đồng tiền cây bạch đàn.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, ngoài số tiền phải trả bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357; khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.4. Anh Nguyễn Xuân K phải trả Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C, tỉnh Bắc Giang số tiền gốc là 67.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong anh Nguyễn Xuân K còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí chia tài sản chung: Chị Thân Thị K1 phải chịu án phí chia tài sản chung là: 9.341.000đồng nhưng được trừ vào số tiền chị Thân Thị K1 đã nộp 16.200.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004873 ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả chị Thân Thị K1 số tiền nộp còn thừa 6.859.000đồng.

Anh Nguyễn Xuân K phải chịu án phí chia tài sản chung là: 10.192.000đồng nhưng được trừ vào số tiền anh Nguyễn Xuân K đã nộp 4.250.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004819 ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Anh Nguyễn Xuân K còn phải nộp số tiền 5.942.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn án phí cho ông Nguyễn Hoài M và bà Phạm Thị S.

Anh Nguyễn Xuân K, chị Thân Thị K1 mỗi người phải chịu án phí 1.675.000đồng án phí trả nợ ngân hàng.

3. Án phí phúc thẩm: Chị Thân Thị K1, anh Nguyễn Xuân K và ông Nguyễn Hoài M, bà Phạm Thị S không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại anh Nguyễn Xuân K 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006758 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Các đương sự,
  • - Cổng thanh tin điện tử;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khôi ly hôn, chia tài sản Kim
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger