|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 07-11-2024
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 24/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: anh Huỳnh Lý Công N, sinh năm 1995; địa chỉ: Số B khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: anh Huỳnh Lý Công N, bị đơn.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày: chị và Huỳnh Lý C anh N đăng kết hôn vào ngày 19/10/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc nhưng khoảng một năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, anh N hay chơi cờ bạc không chăm lo vợ, con và cuộc sống gia đình, mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh N.
Về con chung: chị và anh N có 01 con chung là cháu Huỳnh Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 29/4/2023. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đề nghị anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Lý Công N trình bày: anh thống nhất lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn và con chung. Mặc dù, cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn, anh còn thương chị T, con chung còn quá nhỏ cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nên nay chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh không đồng ý. Anh mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng nhau nuôi dạy con chung. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã xử:
Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với anh Huỳnh Lý Công N.
Về nuôi con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 29/4/2023. Buộc anh Huỳnh Lý Công N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Huỳnh Lý Công N được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản, nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì sẽ bị hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, anh Huỳnh Lý Công N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Huỳnh Lý Công N kháng cáo cho rằng, giữa anh và chị T vẫn còn tình cảm, mong muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T cho rằng, cuộc sống hôn nhân giữa chị với anh N không hạnh phúc, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm cho chị được ly hôn với anh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa có ý kiến nhận xét về thủ tục giải quyết vụ án đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp: anh N kháng cáo toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, theo đó về phần hôn nhân, ông N cho rằng bản án sơ thẩm chưa làm rõ trách nhiệm gây ra mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và anh muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Xét thấy, tại hồ sơ do cấp sơ thẩm thu thập thể hiện nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh N thiếu quan tâm gia đình, anh N có hành vi cờ bạc dẫn đến vợ chồng sống ly thân và chị T xin ly hôn. Từ tháng 4/2024 đến nay chị T cắt liên lạc và lánh mặt, điều này cho thấy chị T không muốn đoàn tụ. Thấy rằng, anh N muốn đoàn tụ nhưng chị T thì cương quyết xin ly hôn, vì vậy từ sau khi xét xử sơ thẩm đến nay, nếu anh N vẫn không có giải pháp nào để thuyết phục chị T trở về chung sống thì không chấp nhận kháng cáo của anh N.
Về phần con chung: cháu Huỳnh Nguyễn Cẩm T1 sinh ngày 29/4/2023 (dưới 36 tháng tuổi), từ trước đến nay bà T là người trực tiếp nuôi con nên bản án sơ thẩm tuyên giao cho chị T trực tiếp nuôi con chung là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: quá trình giải quyết vụ án anh N trình bày thu nhập trung bình mỗi tháng của ông là 9.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử quyết định mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Huỳnh Lý Công N. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 68/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1] Đơn kháng cáo của anh Huỳnh Lý Công N thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Anh N kháng cáo yêu cầu Tòa án xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm T vì cho rằng anh vẫn còn tình cảm với chị T, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm lo và nuôi dạy con chung. Trong khi đó, chị T vẫn cương quyết xin ly hôn vì chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị với anh N đã có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, gây gỗ nhau, anh N không chăm lo vợ con và gia đình khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đến mức không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Thấy rằng, hôn nhân giữa anh N với chị T tồn tại chưa đến một năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, kể từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay vợ chồng không còn sống chung và không quan tâm đến nhau nữa nên tình trạng hôn nhân được xác định là: “Không có tình nghĩa vợ chồng” theo qui định tại điểm a, khoản 3, Điều 4, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Mặt khác, trong đơn kháng cáo của anh N trình bày rằng, trong thời gian vợ chồng ly thân anh biết được chị T có quen với người thanh niên khác, sự việc có đưa ra chính quyền ấp giải quyết, chị T không thừa nhận và chưa có sơ sở để xác định sự việc nhưng điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Anh N muốn hàn gắn tình cảm với chị T nhưng anh vẫn không đưa ra được giải pháp nào để thuyết phục và hàn gắn tình cảm với chị T. Trong khi đó, chị T vẫn kiên quyết ly hôn nên khả năng đoàn tụ để xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc là khó có thể thực hiện được. Do đó, yêu cầu kháng cáo của anh N là không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: anh Huỳnh Lý Công N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Huỳnh Lý Công N;
Giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 5, 28, 37, 39, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với anh Huỳnh Lý Công N.
- Về án phí phúc thẩm: anh Huỳnh Lý Công N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng số 0009049 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Anh N đã nộp đủ tiền án phí.
- Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quốc Dũng |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-PT ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Cẩm Tiên “Tranh chấp ly hôn” Huỳnh Lý Công Nhịn.
