Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HC-ST

Ngày: 11/6/2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Quy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Ngọc và ông Nguyễn Hồng Thái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái – Thư ký TAND tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 03/2023/TLST-HC ngày 03 tháng 03 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HC ngày 28 tháng 03 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa và quyết định tạm ngừng phiên tòa của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thành P – sinh năm 1946; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Thanh M – Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; Có mặt.

  3. Người bị kiện:
    1. Ủy ban nhân dân huyện T và Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên
    2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai N, Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện T; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T: Ông Trịnh Văn H, Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

    3. Ủy ban nhân dân thị trấn P và Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên
    4. Người đại diện theo ủy quyền của UBND thị trấn P và Chủ tịch UBND thị T: Ông Lê Đại H1, Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thị T; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thị T và Chủ tịch UBND thị T, huyện T: Ông Đỗ Tấn G – Công chức Địa chính, Xây dựng thị trấn P; Có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Phú Yên
    2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn H, Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

    3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Phú Yên
    4. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh G1 – Nhân viên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T; Có mặt.

    5. Ông Nguyễn Tấn T – sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    6. Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    7. - Ông Nguyễn Kim B – sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố C, M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

    8. Bà Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    9. Ông Nguyễn Kim H2 – sinh năm 1985; Địa chỉ: Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    10. Ông Nguyễn Đặng Thành L – sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố C, M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    11. Ông Nguyễn Thành D – sinh năm 1997; Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
    12. - Bà Đặng Thị H3 – sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

    13. Bà Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (Bà N1 ủy quyền cho ông Nguyễn Thành P theo Hợp đồng ủy quyền ngày 25/01/2024); Ông P có mặt.
    14. Bà Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1954; Địa chỉ: E Q trấn, L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Bà N1 ủy quyền cho ông Nguyễn Thành P theo Hợp đồng ủy quyền ngày 25/01/2024); Ông P có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện thống nhất trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất vườn ở thửa 496, tờ bản đồ số 372D, diện tích 320m² tại khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên, do ông bà, cha mẹ tạo mãi và xây dựng nhà ở trên mảnh đất vườn này qua các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ giải phóng đất nước từ năm 1975 cho đến nay đã hơn 300 năm. Mảnh đất vườn này tọa lạc tại thôn M, xã H, huyện T (nay là khu phố M, thị Trấn P, huyện T). Đến năm 1993 cơn bão số 10 đã làm sập hoàn toàn nhà ở, do hoàn cảnh quá khó khăn nên ông chưa xây dựng lại nhà ở nhưng ông vẫn trực tiếp quản lý sử dụng liên

tục cho đến nay. Hiện trạng vẫn còn nền móng nhà, sân bê tông, giếng nước và công trình khác trên đất do ông bà, cha mẹ xây dựng để lại từ trước năm 1975 đến nay, không có bất kỳ sự tranh chấp nào, chưa có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền.

Tháng 5/2021 ông P nộp đơn xin giấy phép xây dựng nhà ở trên thửa đất có nền nhà cũ, sân, giếng nước và tiến hành xây dựng xong phần móng nhà thì bị UBND thị trấn P ra quyết định buộc tháo dỡ với lý do “xây dựng nhà trên đất 5% do UBND thị trấn quản lý”.

Gia đình ông chưa có văn bản nào hiến tặng cho Nhà nước hoặc tự nguyện đưa vào Hợp tác xã nông nghiệp, cũng không có văn bản nào của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng nào trưng thu, trưng mua và ông quản lý sử dụng thửa đất nêu trên, chính quyền địa phương không có ý kiến gì, nay ông xây dựng nhà ở thì Chính quyền địa phương buộc ông tháo dỡ vì xây dựng trên đất 5% do thị trấn quản lý là không có căn cứ pháp luật.

Ông Nguyễn Thành P là công chức nhà nước, có hộ khẩu thường trú tại địa phương là nơi ở duy nhất; ông không phải là nhân khẩu nông nghiệp và hộ nông nghiệp. Khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính Phủ về giao đất cho hộ gia đình và cá nhân để sản xuất nông nghiệp UBND xã HUBND huyện T (nay là UBND thị trấn PUBND huyện T) thu đất ở của ông đưa vào đất 5% (đất công ích) để quản lý nền nhà, sân bê tông, giếng nước và tài sản trên đất của ông từ lúc nào, không có quyết định hoặc thông báo nào cho ông biết, không nói đến việc đền bù tài sản trên đất theo quy định.

Ông P gửi đơn khiếu nại nhiều lần, ngày 18/11/2022 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Văn bản số 2065/UBND-TNMT “Về việc trả lời kiến nghị của Công dân”. Việc trả lời của Chủ tịch UBND huyện T không đúng yêu cầu khiếu nại, không đúng với hiện tại, ông không chấp nhận.

Người khởi kiện ông Nguyễn Thành P yêu cầu Tòa án:

  • Hủy Văn bản số 2065/UBND-TNMT ngày 18/11/2022 của Chủ tịch UBND huyện T “Về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân”.
  • Hủy Quyết định số 110/QĐ-UBND ngày 31/5/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P;
  • Hủy Văn số 292/UBND ngày 11/8/2021 của UBND thị trấn P, huyện T;
  • Hủy Văn bản số 359/UBND ngày 25/10/2021 của UBND thị trấn P, huyện T.

Đối với yêu cầu: Buộc UBND huyện T trả lại đất, công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành P thửa 496, tờ bản đồ số 372D, diện tích 320m² hiện là đất công ích do UBND thị trấn P quản lý (Địa chỉ khu đất: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên thì người khởi kiên ông Nguyễn Thành P xin rút khởi kiện đối với yêu cầu này.

Ngoài ra ông P không còn yêu cầu nào khác.

Người bị kiện UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T trình bày: Qua kiểm tra hồ sơ lưu tại UBND thị trấn, diện tích đất ông Nguyễn Thành P đang sử dụng tại khu phố M, thị trấn P có nguồn gốc là đất được nhà nước cân đối giao theo Nghị định 64/CP cho ông Nguyễn Văn T1 (con ông Nguyễn Thành P) tại thửa đất số 79, tờ bản đồ số 9 (đo đạc theo Chỉ thị 299), diện tích 485m² (gồm 200m² đất ở + 200m² đất QHTC + 85m² đất vườn). Đến năm 1996, khi đo đạc lại bản đồ để lập hồ sơ địa chính, thửa đất 79, tờ bản đồ số 9 được đo đạc, xác lập lại là thửa 465, tờ bản đồ 13-A, diện tích 587m² (gồm 200m² đất ở + 200m² đất QHTC + 187m² đất vườn) do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên kê khai vào Sổ Mục kê quyển 1, được Sở địa chính tỉnh Phú Yên phê duyệt ngày 22/8/1999. Năm 2014 thửa đất số 465, tờ bản đồ 13-A tiếp tục được đo đạc, xác lập lại là thửa 135, tờ bản đồ 52, diện tích 578,7m² (gồm: 150m² đất ở + 428,7m² đất BHK) do ông Nguyễn Thành P đứng tên kê khai vào Sổ mục kê quyển 3, được Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P phê duyệt ngày 20/12/2019, UBND huyện có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên biết và xét xử theo quy định.

Người bị kiện UBND thị trấn P và Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện T trình bày:

Qua xem xét tọa độ các điểm theo Mảnh đo đạc địa chính số 02-2023 ngày 07/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh đã đo đạc theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn Thành P và căn cứ tọa độ thửa đất theo giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông Nguyễn Thành P, hồ sơ địa chính và các hồ sơ tài liệu khác có liên quan. UBND thị trấn có ý kiến như sau:

  • Diện tích đo đạc theo chỉ dẫn của ông Nguyễn Thành P là 494,8m². Trong đó: Có 49,8m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành P. Phần diện tích còn lại 235,2m² đã cấp cho ông P nằm ngoài phạm vi chỉ dẫn của ông P và có vị trí liền kề ở hướng Bắc với diện tích theo chỉ dẫn của ông P.
  • Phần diện tích còn lại 445m² (494,8m² - 49,8m²) vị trí liền kề hướng Nam với diện tích 285m² đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Thành P. Phần diện tích đất này đối chiếu với bản đồ đo đạc năm 1996 thuộc 02 thửa đất: Thửa đất số 301, tờ bản đồ 372-D, đất quy hoạch thổ cư của hộ ông Nguyễn Văn T1 và thửa đất số 496, tờ bản đồ 372-D, diện tích 320m², đất công ích do UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) quản lý.
    • + Thửa đất số 301, TBĐ 372-D, diện tích 400m², gồm 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ cư của hộ ông Nguyễn Văn T1. Nhưng theo giấy chứng nhận QSD đất của ông P thì chỉ cấp diện tích 285m², như vậy còn thiếu 115m².
    • + Thửa đất số 496, TBĐ 372-D, diện tích 320m², đất công ích do UBND thị trấn quản lý. Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất là 494,8m², sau khi trừ diện tích 49,8m² đã cấp giấy cho ông P và trừ diện tích còn thiếu 115m² (đất quy

hoạch thổ cư chưa cấp giấy) thì diện tích đất công ích do UBND thị trấn quản lý là 330m², tăng 10m² so với diện tích đăng ký hồ sơ địa chính.

Như vậy, theo kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn Thành P với diện tích 494,8m², trong đó có 330m² đất công ích do UBND thị trấn quản lý và diện tích 115m² là đất quy hoạch thổ cư của hộ ông T1 chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất.

- Về nội dung ông Nguyễn Thành P yêu cầu trả lại phần diện tích đất công ích cho gia đình ông, UBND thị trấn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên giải quyết theo quy định của pháp luật tại: Khoản 5 Điều 26 và Điều 132 Luật đất đai 2013.

Ngày 22/03/2024 UBND thị trấn P có văn bản số 106/UBND gửi TAND tỉnh Phú Yên có nội dung như sau:

- Thửa đất số 79, tờ bản đồ số 9 (bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299), tổng diện tích 485m² (200m² đất ở, 200m² đất quy hoạch thổ cư và 85m² đất vườn) được cân đối cho hộ ông Nguyễn Văn T1. Trong đó đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số phát hành B 390189, số vào sổ cấp GCN 0273/QSDĐ do UBND huyện T cấp ngày 18/4/1996 cho ông Nguyễn Văn T1, còn lại 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ cư chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất (vị trí thuộc khu phố M là vị trí hiện nay ông Nguyễn Thành P đang sử dụng). Đến khi đo đạc bản đồ năm 1996 thì thửa đất trên được đo đạc lại thành thửa đất số 465, tờ bản đồ 13-A, diện tích 587m² (gồm 200m² đất ở, 200m² đất quy hoạch thổ cư và 187m² đất vườn) và kê khai chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn T3. Như vậy, cùng một thửa đất nhưng theo hồ sơ cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP là đất của ông T1 nhưng đến khi đo đạc bản đồ năm 1996 và lập hồ sơ địa chính năm 1999 lại của ông T3 là không trùng khớp.

- Thửa đất số 266, tờ bản đồ số 9 (bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299), tổng diện tích 980m². Trong đó được giao cho hộ ông Nguyễn Văn T3 diện tích 400m² (gồm 200m² đất ở, 200m² đất quy hoạch thổ cư), còn lại 580m² không giao cho hộ ông T3. Đến khi đo đạc bản đồ năm 1996 thì thửa đất trên được đo đạc lại thành thửa đất số 301, tờ bản đồ 372-D, diện tích 400m² (gồm 200m² đất ở, 200m² đất quy hoạch thổ cư) và kê khai chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn T1 và ông T1 được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất số phát hành AG 517229, số vào sổ cấp GCN H 02915 ngày 02/7/2008 với diện tích 200m² đất ở, còn lại 200m² đất quy hoạch thổ cư chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Như vậy, cùng một thửa đất nhưng theo hồ sơ cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP là đất của ông T3 nhưng đến khi đo đạc bản đồ năm 1996 và lập hồ sơ địa chính năm 1999 lại của ông T1 và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông T1 là không trùng khớp (vị trí thuộc khu phố M là vị trí hiện nay ông Nguyễn Thành P đang khởi kiện).

Ngày 18/9/2017 hộ ông Nguyễn Văn T1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành P được UBND thị trấn chứng thực ngày 18/9/2017 đã tặng cho diện tích 285m², gồm 200m² đất ở tại thửa đất số 301, tờ bản đồ 372-D (bản đồ năm 1996) và 85m² đất bằng trồng cây hàng năm khác (đất vườn) tại thửa đất số 79, tờ bản đồ số 9 (bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299) đến ngày 25/10/2017 ông Nguyễn Thành P được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P cấp giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CI 030702. Như vậy, phần diện tích 285m² được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông P hiện nay gồm có 200m² đất ở thuộc khu phố M và 85m² đất bằng trồng cây hàng năm khác thuộc khu phố M, 02 diện tích đất này không cùng vị trí với nhau.

Theo Báo cáo số 55/BC-UBND ngày 09/4/2021 của UBND thị trấn về tình hình quản lý, sử dụng quỹ đất công ích tại địa bàn thị trấn P. Theo sổ đăng ký văn bản đi lưu trữ tại UBND thị trấn thì báo cáo này đúng là số 55, ngày 09/4/2021 nhưng do nhầm lẫn nên ghi nhầm thành 54 sau đó có sửa chữa lại thành số 55, nhưng vẫn không thay đổi nội dung của báo cáo (kèm theo trang đăng ký văn bản đi). Để quản lý đất công ích do UBND thị trấn quản lý, hàng năm UBND thị trấn lập phương án cho thuê đất công ích, thành lập hội đồng đấu giá cho thuê đất công ích và thực hiện tổ chức đấu giá cho thuê đất công ích đối với khu vực có nhiều thửa đất nằm liên vùng thuận lợi trong việc sản xuất. Còn đối với các diện tích đất công ích có diện tích nhỏ lẻ, không liên vùng thì tổ chức bốc tăm để ký hợp đồng thuê đất theo mẫu quy định. Phần diện tích đất công ích tại vị trí ông Nguyễn Thành P đang khởi kiện do có diện tích nhỏ, nằm xen kẻ trong khu dân cư nên không tổ chức đấu giá. Hơn nữa diện tích đất này từ khi lập hồ sơ địa chính năm 1999 đến nay thì theo danh sách các thửa đất có ký hợp đồng thuê đất thì không có thửa đất này. Nên không có chứng từ chứng minh liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T trình bày (Văn bản số 1452/CNVPĐKĐĐ ngày 29/11/2023): Không có hồ sơ quản lý đất công ích của UBND thị trấn P; Chi nhánh không có ý kiến gì đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T4 trình bày: Nguồn gốc đất này được các đời ông, bà cao niên của gia đình tôi tạo lập và sử dụng trước năm 1975; sau năm 1975 thì ông nội và cha tôi là ông Nguyễn Thành P sau khi tham gia cách mạng giải phóng thống nhất đất nước quay trở về địa phương tiếp tục sinh sống quản lý và sử dụng chính trên khu đất vườn và nhà ở trên đất này.

Việc xem xét cân đối và lập hồ sơ giao đất cho hộ gia đình do tôi làm chủ hộ thì tôi hoàn toàn không biết và không ký vào bất cứ văn bản hay giấy tờ nào về việc kê khai giao đất của hội đồng giao đất của xã H 2 đã lập vào năm 1994 bởi lẽ: Tôi sinh năm 1978 đến năm 1994 là 16 tuổi, chỉ lo phụ giúp việc gia đình và đi học.

Riêng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 372-D, diện tích 320m² thì UBND xã H đã đưa vào quỹ đất công ích do xã H 2 quản lý (nay là UBND thị trấn P quản lý). Tuy nhiên, thửa đất này là nhà ở và có công trình nền, móng nhà, sân, giếng nước của ông bà tạo lập trước khi tôi sinh ra. Năm 1994 thực hiện chủ trương của Nhà nước về giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ dân thì tôi không kê khai và hoàn toàn không biết gì về việc đưa thửa đất này vào quỹ đất công ích của xã H, theo phương án cân đối giao đất của xã, theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ. Đặc biệt trên thửa đất này cha tôi đang quản lý sử dụng có nhà ở và công trình phụ trên đất, do ông bà tôi để lại, việc quản lý và sử dụng đất này của cha tôi từ đó đến nay luôn ổn định và không lấn chiếm hay tranh chấp với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào ở địa phương.

Thửa đất 496, tờ bản đồ 372-D, diện tích 320m² thuộc quỹ đất công ích do xã H 2 quản lý (nay là UBND thị trấn P quản lý). Thực tế về nguồn gốc và thời điểm sử dụng thửa đất này là ông, bà nội và cha tôi quản lý, sử dụng, đây là nơi ở duy nhất của ông bà và cha tôi từ khi thực hiện chính sách đất đai của nhà nước cho đến nay. Từ khi thực hiện các chính sách nhà nước về đất đai cho đến nay thì UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) không có bất kỳ văn bản nào về việc quản lý sử dụng và cho thuê cá nhân, tổ chức hay hộ gia đình nào thuê đất công ích do UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) quản lý đối với thửa đất này. Chỉ duy nhất người quản lý và sử dụng đất này là ông bà nội và cha tôi là ông Nguyễn Thành P quản lý và sử dụng đến nay, việc quản lý và sử dụng không vi phạm pháp luật đất đai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T trình bày: Thống nhất với yêu cầu của người khởi kiện.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng không đối thoại được do vắng mặt người bị kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

Các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Luật tố tụng hành chính; Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Thành P, hủy các quyết định hành chính bị kiện; Đối với yêu cầu khởi kiện Buộc UBND huyện T trả lại diện tích đất 320m² tại thửa 496, tờ bản đồ 372-D trên đất có nền nhà, sân, giếng nước và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử vì ông P đã rút yêu cầu này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người bị kiện, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện UBND huyện T và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Vụ án này đã mở phiên tòa nhiều lần. Căn cứ vào Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ngày 05/12/2022 người khởi kiện ông Nguyễn Thành P nộp đơn khởi kiện tại TAND tỉnh Phú Yên và trong quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện ông Nguyễn Thành P yêu cầu: Hủy văn bản số 2065/UBND-TNMT ngày 18/11/2022 của Chủ tịch UBND huyện T “Về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân”; Hủy Quyết định số 110/QĐ-UBND ngày 31/5/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị; Hủy Văn bản số 292/UBND ngày 11/8/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P V/v trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành P; Hủy Văn bản số 359/UBND ngày 25/10/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P V/v trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành P (lần 2). Xét thấy, các văn bản nêu trên của Chủ tịch UBND huyện T và Chủ tịch UBND thị trấn P chưa ban hành đúng trình tự, thủ tục và không ban hành bằng quyết định là không đúng quy định tại Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật khiếu nại. Nhưng nội dung của các văn bản này tác động trực tiếp và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thành P. Nên các văn bản trả lời nêu trên là quyết định hành chính, thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 của Luật tố tụng hành chính. Ngày 03/3/2023 TAND tỉnh Phú Yên thụ lý giải quyết vụ án hành chính là đúng quy định tại Điều 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.

[3] Điều 45 Luật đất đai năm 1993 quy định “Căn cứ vào quỹ đất đai, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mỗi xã được để lại một quỹ đất không quá 5% đất nông nghiệp để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương. Chính phủ quy định cụ thể việc sử dụng đất này”; Khoản 1 Điều 72 Luật đất đai 2003 và khoản 1 Điều 132 Luật đất đai năm 2013 quy định “1. Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản để phục vụ cho các nhu cầu

công ích của địa phương”; Điều 1 Nghị định 64/CP quy định “Hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp: Toàn bộ đất nông nghiệp đang được sử dụng thì giao hết cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của xã theo Quy định này”.

[3.1] Theo Báo cáo số 89/BC-HĐND ngày 07/4/2018 của Hội đồng nhân dân huyện T giám sát về việc thực hiện quản lý và sử dụng quỹ đất công ích (5%) trên địa bàn xã từ năm 2015 đến năm 2017, thể hiện “Theo số liệu báo cáo của 11 xã, thị trấn: Đến năm 2017, tổng diện tích quỹ đất công ích (theo quy định được lập không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản) là 1.647,7028 ha/22.254,41 ha đất nông nghiệp, trong đó thị trấn P: 109,96 ha/953,24 ha; tỷ lệ 11,5% vượt 6,5%".

[3.2] Xét quá trình quản lý, sử dụng thửa đất 496, tờ bản đồ số 372-D, diện tích 320m²: Theo Bản đồ 299 thì thửa đất đất 496 nêu trên nằm trong thửa đất số 266, tờ bản đồ số 4, có tổng diện tích 980m² (ký hiệu thửa đất là “T”). Như vậy, ngay từ Bản đồ đo đạc năm 1985 đã thể hiện thửa đất 266 này là đất ở, không phải là đất nông nghiệp. Tại trang cân đối giao đất thì đã cân đối cho hộ ông Nguyễn Văn T1 với diện tích 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ cư, còn lại 580m² đất trồng cây hàng năm khác không cân đối cho hộ ông T1. Đến khi đo đạc bản đồ năm 1996 thì thửa đất trên được đo đạc lại thành 02 thửa đất: Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 372-D, diện tích 400m² (gồm 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ cư), chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn T1 và thửa đất số 496, tờ bản đồ số 372-D, diện tích 320m² đất công ích do UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) quản lý.

[3.3] Điểm 2, mục II của Phương án giao đất nông nghiệp năm 1994 của xã H (nay là thị trấn P) quy định “Căn cứ Luật đất đai và quy định của UBND tỉnh, đất xây dựng nhà ở chỉ được cấp 200m² cho mỗi hộ, như vậy những hộ có đất vườn ở dưới 200m² thì giữ nguyên hiện trạng, những hộ có vườn ở rộng cũng chỉ được trừ đất thổ cư không quá 400m² (gồm 200m² đất ở theo quy định và đất quy hoạch thổ cư) số diện tích vườn thừa ngoài 400m² sẽ được quy đổi hợp lý để cân đối vào diện tích được giao của hộ đó. Riêng vườn nhà chùa giữ nguyên hiện trạng không đưa vào cân đối”. Như vậy, thời điểm cân đối giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ thì thửa đất 266, tờ bản đồ số 4 có tổng diện tích 980m² trong đó trừ phần diện tích 400m² (gồm 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ cư), phần còn lại đất vườn thừa đưa vào cân đối giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP cho hộ đó (hộ ông T1), nhưng thời điểm đó phần diện tích 580m² còn lại này không cân đối cho hộ ông Nguyễn Văn T1.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án thì người khởi kiện ông Nguyễn Thành P và người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận: Ông

Nguyễn Thành P không thuộc đối tượng cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP và diện tích 320m² thửa đất 496 (tách ra từ thửa 266, tờ bản đồ số 4, bản đồ 299/TTg) không đưa vào cân đối, giao đất theo Nghị định 64/CP. Trên thực tế từ trước đến nay UBND thị trấn P không trực tiếp quản lý đối với diện tích 320m² và không thực hiện việc quản lý, sử dụng và cho thuê theo quy định tại khoản 2 Điều 7, khoản 3 và khoản 4 Điều 132 Luật đất đai 2013 và UBND thị trấn P cũng không xác định được ranh giới diện tích 320m² đất công ích nằm ở vị trí nào so với diện tích thực tế ông P đang sử dụng. Người trực tiếp sử dụng thửa đất 496 là gia đình ông Nguyễn Thành P. Mặc khác, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2023 thể hiện trên diện tích đất ông P đang khiếu kiện có tồn tại 01 nền nhà và sân xây dựng trước năm 1993, 01 giếng nước đào trước năm 1993.

[5] Mặc dù theo Sổ mục kê và Sổ địa chính lưu giữ tại UBND thị trấn P thể hiện thửa đất 496, tờ bản đồ 372-D, diện tích 320m², thể hiện là đất công ích do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, Sổ địa chính này lập năm 1999 nên không thuộc điểm b khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, S địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993”. Đồng thời, tại Văn bản số 292/UBND ngày 11/8/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P (BL 04) “Về trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành P” và tại phiên tòa UBND thị trấn P thừa nhận “Về nguồn gốc: Đất do ông bà cha mẹ ông P để lại, trong quá trình sử dụng hộ gia đình ông P có cải tạo đất lấy đất vườn để nâng nền nhà nên thửa đất của ông có phần cao và phần thấp. Phần đất cao để xây dựng nhà ở và các công trình phụ khác, phần đất thấp gia đình ông tận dụng để trồng rau màu và trồng lúa 1 vụ. Do đó Bản đồ năm 1985 đo tách thửa đất của hộ ông P thành 02 thửa đất số 266, TBĐ 04, diện tích 960m² đất thổ (phần cao) và thửa 267, TBĐ 04 diện tích 500m² đất màu (phần thấp). Từ đó đến nay hộ gia đình ông P sử dụng liên tục, không có người ngoài vào sản xuất thửa đất này...”. Tuy nhiên, theo Báo cáo số 200/BC-UBND ngày 08/4/2021 của UBND huyện T về báo cáo tình hình quản lý, sử dụng quỹ đất công ích tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện có đề xuất, xin ý kiến của UBND tỉnh về “Cho phép UBND huyện rà soát các thửa đất công ích mà UBND cấp xã không quản lý cho thuê để hộ gia đình quản lý sử dụng thì đưa ra khỏi quỹ đất công ích, công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân”.

[6] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đối với yêu cầu hủy các quyết định hành chính bị kiện.

[7] Tại phiên đối thoại ngày 28/03/2024 và tại phiên tòa người khởi kiện tự nguyện rút yêu cầu: Buộc UBND huyện T trả lại đất, công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành P đối với thửa 496, tờ bản đồ số 372-D, diện tích đất 320m² hiện là đất công ích do UBND

thị trấn P quản lý (Địa chỉ khu đất: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên). Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

[8] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc: Do chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 158, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348 và Điều 358 của Luật tố tụng hành chính; điểm b khoản 1 Điều 100, khoản 2 Điều 7, khoản 3 và khoản 4 Điều 132 của Luật đất đai 2013, Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành P đối với yêu cầu:
    • Hủy văn bản số 2065/UBND-TNMT ngày 18/11/2022 của Chủ tịch UBND huyện T “Về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân”;
    • Hủy Quyết định số 110/QĐ-UBND ngày 31/5/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện T về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị;
    • Hủy Văn bản số 292/UBND ngày 11/8/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện T V/v trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành P;
    • Hủy Văn bản số 359/UBND ngày 25/10/2021 của Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện T V/v trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành P (lần 2).
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu: Buộc UBND huyện T trả lại đất, công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành P thửa 496, tờ bản đồ số 372-D, diện tích 320m² hiện là đất công ích do UBND thị trấn P quản lý (Địa chỉ khu đất: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên). Vì người khởi kiện tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện này.

Về án phí: Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện T và Chủ tịch UBND thị trấn P liên đới phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc số tiền 5.268.000 đồng: Chủ tịch UBND huyện T và Chủ tịch UBND thị trấn P phải liên đới chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc.

Do người khởi kiện đã nộp tạm ứng nên người bị kiện Chủ tịch UBND huyện T và Chủ tịch UBND thị trấn P có trách nhiệm liên đới phải hoàn trả cho ông

Nguyễn Thành P số tiền 5.268.000 đồng (Năm triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Thời hạn, trình tự thủ tục thi hành và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng (1);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên (1);
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, VT, hồ sơ vụ án (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đậu Thị Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HC-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 31/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger