|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 31/2024/HC-PT Ngày: 10/01/2024 V/v khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Tuấn;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Ông Đặng Văn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Minh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 743/2023/TLPT-HC ngày 11 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2023/HC-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4967/2023/QĐPT-HC ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Đào Thị H sinh năm 1972; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (địa chỉ: Số D, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) do Luật sư Lê Văn T là Trưởng Văn phòng đại diện (Văn bản ủy quyền ngày 02/01/2024); có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn T1 - Phó chủ tịch UBND huyện Y (Văn bản ủy quyền số 1640//2023/UBND-NC ngày 27/7/2023); vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị V là Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y; vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện là bà Đào Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023 (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nhận ngày 16/3/2023) và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là bà Đào Thị H trình bày:
Ngày 24/8/2007, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số AK 036556, đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ thiết kế phân lô, diện tích 152m² tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang mang tên ông Nguyễn Ngọc S, bà Thân Thị Hữu .
Ngày 19/11/2020, bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông S, bà H1 diện tích đất nêu trên. Việc chuyển nhượng đã được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y xác nhận tại trang 4 của GCNQSDĐ. Năm 2021, trong quá trình làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên cho người khác, bà phát hiện diện tích ghi trên GCNQSDĐ không đúng với diện tích ghi trên bản đồ địa chính (diện tích trên GCNQSDĐ là 152m², diện tích trên bản đồ địa chính đo đạc 2007 là 214,7m², diện tích đo đạc thực tế là 215,2m²).
Sau khi phát hiện có sự chênh lệch diện tích đất như trên, bà đề nghị cấp đổi lại GCNQSDĐ đúng với diện tích ghi trên bản đồ địa chính đo đạc 2007 là 214,7m². Tuy nhiên, ngày 08/4/2022 Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y có phiếu từ chối hồ sơ vì diện tích tăng so với GCNQSDĐ cũ là 62,7m², nguồn gốc thửa đất là do nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất. Bà đã nhiều lần đề nghị UBND huyện Y chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phải tiếp nhận hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ cho bà. Tuy nhiên, UBND huyện Y không trả lời đơn, cũng không tiếp nhận nhận hồ sơ và cấp đổi GCNQSDĐ cho bà. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án buộc UBND huyện Y phải tiếp nhận, cấp đổi GCNQSDĐ cho bà đối với thửa 279 tờ bản đồ 66, diện tích 215,2m², mục đích sử dụng đất ở tại thôn Q, xã T, huyện Y.
Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y trình bày:
Bà Đào Thị H nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc S, bà Thân Thị H2 quyền sử dụng đất thửa đất số 27, tờ bản đồ TKPL, diện tích 152 m², loại đất ở, địa chỉ thôn Q, xã T. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y xác nhận và chỉnh lý biến động thay đổi về chủ sử dụng đất ngày 10/12/2020.
Về nguồn gốc đất:
Ngày 23/11/2004, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 1247/QĐ-CT về việc giao đất, thu tiền sử dụng đất khi giao đất ở cho nhân xã T với tổng số lô đất ở là 96 lô, trong đó có lô số 27. Giá thu tiền sử dụng đất khi được giao đất được duyệt 03 mức tương ứng với 03 vị trí: Mức 1 số tiền 400.000 đồng/m²; mức 2 số tiền 270.000 đồng/m²; mức 3 số tiền 220.000 đồng/m². UBND xã T trình UBND huyện Y các trường hợp đủ điều kiện được giao đất ở trong đó có ông Nguyễn Ngọc S vợ là Thân Thị H2, lô đất số 27, diện tích giao là 152m² trên cơ sở đơn xin giao đất của người sử dụng đất và các quy định của pháp luật tại thời điểm.
Ngày 24/8/2007, ông S, bà H2 được UBND huyện Y giao đất có thu tiền sử dụng đất tại Quyết định số 1709/QĐ-UBND ngày 24/8/2007 tại thửa đất số 27, tờ bản đồ TKPL, diện tích 152m². Ông S đã nộp đủ với tiền 33.440.000 đồng cho diện tích 152m², đơn giá là 220.000 đồng/m2; được UBND huyện cấp GCNQSDĐ số phát hành AK 036556, số vào sổ H00513, cấp ngày 24/8/2007 thửa đất số 27 tờ bản đồ số TKPL diện tích 152 m², loại đất ở, địa chỉ thôn Q, xã T.
Ông S, bà H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H với số diện tích 152m², việc chuyển nhượng được lập hợp đồng, chứng thực và thực hiện đăng ký đất đai theo quy định. Thời điểm chuyển nhượng năm 2020, được Chi nhánh Văn phòng ký đất đai huyện Y ký chỉnh lý ngày 10/12/2020.
Theo sơ đồ thửa đất tại trang 3 trên GCNQSDĐ ngày 24/8/2007, kích thước thửa đất ghi: Cạnh tiếp giáp đường giao thông là 6,4m; hai cạnh chiều sâu lần lượt là 31,8m (tiếp giáp thửa số 28) và 37,1m (tiếp giáp mương quy hoạch), cạnh phía sau giáp mương quy hoạch 7,2m; thực hiện xác định và tính toán lại diện tích theo kích thước ghi trên GCNQSDĐ diện tích là 214,7m², diện tích lớn hơn so với diện tích được giao đất, nộp tiền sử dụng đất và ghi trên GCNQSDĐ là 62,7m².
Ngày 04/4/2022, bà H nộp hồ sơ đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y từ chối do diện tích đất bà H đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa đất số 279, tờ bản đồ 66, diện tích 214,7m² đất ở tại thôn Q, xã T, huyện Y (thông tin đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ bà H đề nghị theo bản đồ địa chính chính quy xã T đo vẽ năm 2007). Diện tích đề nghị cấp đổi lớn hơn so với diện tích được UBND huyện Y giao đất cho ông S, bà H2 và diện tích bà H nhận chuyển nhượng là 62,7m².
Ngày 01/6/2022, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B nhận được đơn tố cáo Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y từ chối hồ sơ cấp đổi của bà H không đúng quy định. Ngày 21/6/2022, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B mời bà H làm việc thì bà H đã rút đơn tố cáo. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y, Phòng T2 tiếp tục mời bà H làm việc, trong quá trình làm việc bà H trực tiếp hoặc ủy quyền cho Luật sư có ý kiến quan điểm đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y cấp đổi GCNQSDĐ với diện tích là 214,7m² đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất, vì bà H và Luật sư được bà H
ủy quyền cho rằng theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 “Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.”.
Hiện trạng sử dụng đất hiện nay chưa xây dựng công trình, không có tường bao, thửa đất số 28 tiếp giáp liền kề đã xây dựng công trình nhà ở, có ranh giới rõ ràng; còn lại các cạnh khác của thửa đất 27 tiếp giáp với đường giao thông, rãnh thoát nước chưa xác định ranh giới ngoài thực địa sử dụng đất.
Trong quá trình làm việc, Phòng T2, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y trao đổi, giải thích cho bà H và Luật sư được bà H ủy quyền về việc sơ đồ thửa đất, kích thước ghi trên sơ đồ bị sai lệch so với diện tích sử dụng đất được UBND huyện Y giao đất, thu tiền và cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, bà H không đồng ý và gửi đơn đến Tòa án khởi kiện UBND huyện Y, yêu cầu Tòa án buộc UBND huyện Y phải tiếp nhận, cấp đổi GCNQSDĐ cho người khởi kiện đối với 215,2m² đất ở.
UBND huyện Y đề nghị Tòa án bác yêu cầu của người khởi kiện về việc buộc UBND huyện Y phải tiếp nhận, giải quyết thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khởi kiện đối với thửa đất số 279, tờ bản đồ số 66, diện tích 215,2 m², mục đích sử dụng đất ở, địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2023/HC-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, các điều 204, 206, 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị H về việc buộc Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang phải làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 279, tờ bản đồ 66, diện tích 215,2m² đất ở tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/8/2023, người khởi kiện là bà Đào Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư Lê Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Đào Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – chi nhánh huyện Y vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người đại diện hợp pháp của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
Về việc giải quyết vụ án: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người đại diện cho người khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm, thì diện tích đất người khởi kiện đang sử dụng có diện tích lớn hơn diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại GCNQSDĐ cho phù hợp với diện tích đất thực tế nếu phần diện tích đất vượt quá diện tích đất được cấp GCNQSDĐ không vi phạm quy hoạch, đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ và người khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đối với phần diện tích đất chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính này hoặc theo đúng diện tích đất mà người khởi kiện có quyền sử dụng hợp pháp nếu phần diện tích đất vượt quá diện tích đất trong GCNQSDĐ vi phạm quy hoạch, không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ hoặc người sử dụng đất không đồng ý thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đối với phần diện tích đất vượt quá diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Ngày 16/3/2023, bà Đào Thị H có đơn khởi kiện với nội dung về hành vi không cấp đổi GCNQSDĐ của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hành vi không cấp đổi GCNQSDĐ là hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại khoản 7 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 và là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Sau
khi phát hiện có sự chênh lệch diện tích giữa GCNQSDĐ số AK 036556 (152m²) với diện tích ghi trên bản đồ địa chính đo đạc 2007 (214,7m²), bà H đã đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ. Ngày 08/8/2022, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y đã có phiếu từ chối hồ sơ nên đơn khởi kiện của bà H là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2023, bà H có đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 205, khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của các đương sự này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung:
[4] Ngày 23/11/2004, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 1247/QĐ-CT về việc giao đất, thu tiền sử dụng đất khi giao đất ở cho nhân dân xã T, huyện Y với tổng số lô đất là 96 lô. Giá thu tiền sử dụng đất khi được giao đất được duyệt 03 hạn mức. UBND xã T đã trình UBND huyện Y các trường hợp đủ điều kiện để được giao đất ở, trong đó hộ ông Nguyễn Ngọc S (vợ là bà Thân Thị H2).
[5] Ngày 24/8/2007, vợ chồng ông S, bà H2 được UBND huyện Y giao đất có thu tiền sử dụng đất tại Quyết định số 1709/QĐ-UBND đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ TKPL, diện tích 152m². Vợ chồng ông S, bà H2 đã nộp đủ số tiền 33.440.000 đồng (220.000 đồng/m²) cho diện tích 152m² (sau đây viết tắt là thửa đất số 27) và UBND huyện Y đã cấp GCNQSDĐ số AK 036556 số vào sổ H 00513 cấp ngày 24/8/2007 (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ ngày 24/8/2007). Như vậy, đây là trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, vợ chồng ông S, bà H2 được giao diện tích 152m² đất ở thuộc thửa đất số 27 và phải nộp số tiền 33.440.000 đồng, được quyền sử dụng đất và đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 27 có diện tích 152m² đất.
[5] Ngày 19/11/2020, vợ chồng ông S, bà H2 chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 152m² đất thuộc thửa đất số 27 cho bà Đào Thị H, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các bên thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bà H đã trả đủ tiền nhận chuyển nhượng đất, nhận đất sử dụng và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y chỉnh lý chủ sử dụng đất trên GCNQSDĐ ngày 24/8/2007 vào ngày 10/12/2020.
[6] Theo sơ đồ thửa đất tại trang 3 trên GCNQSDĐ ngày 24/8/2007, ghi kích thước thửa đất số 27 như sau: Cạnh tiếp giáp đường giao thông là 6,4m; hai
cạnh chiều sâu lần lượt là 31,8m (tiếp giáp thửa đất số 28) và 37,1m (tiếp giáp đường mương quy hoạch), cạnh phía sau mương quy hoạch 7,2m. Thực hiện xác định và tính toán lại diện tích theo kích thước ghi trên GCNQSDĐ ngày 24/8/2007 là 214,7m², sau khi đo đạc thì hiện trạng diện tích đất là 215,2m² lớn diện tích đã được giao đất, nộp tiền sử dụng đất và ghi trên GCNQSDĐ ngày 24/8/2007 là 63,2m². Như vậy, diện tích đất sử dụng thực tế lớn hơn diện tích đất được giao, thu tiền sử dụng đất và được cấp GCNQSDĐ.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ cho phù hợp với thực tế và đồng ý nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với diện tích đất vượt quá diện tích đất được cấp GCNQSDĐ nhưng chưa thu tiền sử dụng đất hoặc xem xét, xác định lại diện tích đất (ranh giới, kích thước của thửa đất) đúng với diện tích đất mà vợ chồng ông S, bà H2 được giao có thu tiền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho bà H là 152m², để bà H thực hiện được quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
[8] Do đó, trường hợp này cần phải cấp đổi lại GCNQSDĐ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 để đảm bảo người sử dụng đất thực hiện được quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
[9] Do diện tích đất mà vợ chồng ông S, bà H2 được UBND huyện Y giao đất có thu tiền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho bà H là 152m², phần diện tích đất lớn hơn diện tích đất được cấp GCNQSDĐ chưa thu tiền sử dụng đất. Vì vậy, trong trường hợp người sử dụng đất yêu cầu cấp đổi GCNQSDĐ cho phù hợp với thực tế thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần diện tích đất lớn hơn diện tích đất được cấp GCNQSDĐ nếu diện tích đất này phù hợp với quy hoạch và có đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ; trong trường hợp phần diện tích đất lớn hơn diện tích đất được cấp GCNQSDĐ không phù hợp với quy hoạch và không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ hoặc người sử dụng đất không đồng ý nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần diện tích đất lớn hơn diện tích đất được cấp GCNQSDĐ, thì phải xem xét, xác định lại ranh giới, kích thước của thửa đất đúng với diện tích đất mà vợ chồng ông S, bà H2 được giao có thu tiền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho bà H là 152m².
[10] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà H là không có căn cứ.
[11] Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc UBND huyện Y phải làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H đối với thửa 279, tờ bản đồ 66, diện tích 215,2m² đất ở tại thôn Q, xã T, huyện Y.
[12] Do vậy, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, là có cơ sở nên được chấp nhận.
[13] Do được chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 34, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Đào Thị H, sửa toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2023/HC-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị H về việc buộc Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang phải làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đào Thị H đối với thửa đất số 279, tờ bản đồ 66 tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh huyện Y thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật, làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đào Thị H đối với thửa đất số 279, tờ bản đồ 66 tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí hành chính:
3.1. Bà Đào Thị H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm.
Trả lại bà Đào Thị H3 số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005389 ngày 02/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang và số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000192 ngày 08/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
3.2. Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang phải nộp số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Tuấn |
Bản án số 31/2024/HC-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 31/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
