TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 31/2024/DS-PT Ngày 12-7-2024 V/v Tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp về quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy;
Ông Vi Đức Trí
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024, về việc Tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp về quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 43/2024/QĐ-PT ngày 07-6-2024; Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên toà số 17/TB-TA ngày 24-6-2024; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Cao Thị K; địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Cao Thị K: Bà Chu Bích T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn, có mặt;
- Bà Cao Thị T; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Cao Văn Q, có mặt;
- Bà Cao Thị N, có mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Dương Mạnh H; địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị B, có mặt;
- Anh Cao Sơn V, vắng mặt;
- Anh Cao Tiến N, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Cạnh số nhà **, đường B, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Chị Chu Bích T, vắng mặt;
- Anh Dương Thế A, vắng mặt;
- Chị Đào Thanh T, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn B, vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị B, vắng mặt;
- Ông Chu Văn Đ, có mặt;
- Ông Triệu Quang V, vắng mặt;
- Ông Nông Thành L, vắng mặt;
- Ông Trần Công Đ, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn M, vắng mặt;
- Chị Đào Thị Thanh H, vắng mặt;
- Anh Lại Văn H, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Ông Dương Viết H, vắng mặt;
- Bà Đinh Thị H, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Ngõ **, đường T, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Anh Chu Tiến M; địa chỉ: Số ***, đường H, thôn C, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Văn M, vắng mặt;
- Chị Phạm Thị V, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Số ***, đường B, khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết M; địa chỉ: Số **, đường B, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt;
- Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lý Thị Kim O, chức vụ: Công chức Địa chính - Xây dựng xã S, huyện H (văn bản ủy quyền ngày 26-02-2024), vắng mặt;
- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Trang V, chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H (văn bản ủy quyền ngày 17-8-2023), vắng mặt;
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lưu Văn K, chức vụ: Viên chức Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H (văn bản ủy quyền ngày 24-5-2024), vắng mặt;
- Công ty Điện lực Lạng Sơn;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn N, chức vụ: Giám đốc Điện lực H (văn bản ủy quyền ngày 26-10-2023), vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Cao Thị K, bà Cao Thị T
Cơ quan kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn và bị đơn có quan hệ là chị em ruột. Bố mẹ nguyên đơn, bị đơn là cụ Cao Văn T (chết năm 1963), cụ Nguyễn Thị C (chết năm 1982), hai cụ có 04 người con, gồm: Cao Thị K sinh năm 1949, Cao Thị N sinh năm 1957, Cao Thị T sinh năm 1959, Cao Văn Q sinh năm 1963. Ngoài 04 người con này hai cụ không có con riêng hoặc con nuôi nào khác.
Tài sản chung tranh chấp là 04 mảnh đất và tài sản trên đất. Theo kết quả trích đo đất tranh chấp ngày 11-10-2023, thể hiện:
- Mảnh đất thứ nhất: Diện tích 1.486m², có vị trí đỉnh điểm: B1, A1, A2, B2, A6, B7, A8, B8, A10, B9, A11, B10, A14, A16, B11, A17, A20, A21, B12, B13, B14, A24, A27, A30, A31, A32, A44, B15, A35, A36, A37, B6, B4; tại địa chỉ thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, gồm các thửa đất:
- Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.030m², có vị trí đỉnh điểm: B6, A39, A43, B5, B20, B2, A6, B7, A8, B8, A10, B9, A11, B10, A14, A16, B11, A17, A20, A21, B12, B13, A23, A45, B15, A35, A36, A37.
Tài sản trên đất gồm: 01 cây câu, 02 cây mít, 2 cây bưởi, 2 cây mác mật, 01 cây khế, 01 cây đa, 03 cây sung, 02 cây vải (01 cây đường kính trên 30cm, 01 cây đường kính từ 10-20cm), 01 cây sấu. Trong đó, 01 cây vải đường kính trên 30cm do bà Cao Thị K trồng năm 1984, các cây còn lại do ông Cao Văn Q trồng; 01 ngôi nhà chính loại nhà 3C xây dựng năm 1999, mái tôn, tường xây, sân gạch đỏ đất nung, nhà bếp xây dựng năm 2005, chuồng gà, cửa xếp sắt, 01 giếng nước, 02 chuồng gà cũ, 01 bể nước, 01 tường cay 02 đoạn: Đều do ông Cao Văn Q xây dựng; 01 cột điện thuộc Công ty điện lực Lạng Sơn quản lý; nhà ở và công trình, kiến trúc do bà Cao Thị K xây dựng: 01 nhà cấp 4, lợp Proximang, nhà vệ sinh đã xuống cấp, 01 cây hương.
- Thửa đất số 8a, tờ bản đồ số 17, diện tích 240m², có vị trí đỉnh điểm: B15, A45, A23, B13, B14, A24, A27, A30, A31, A32, A44.
Tài sản trên đất gồm: 02 cây mít, 01 cây xoài, 01 cây nhãn, một số bụi chuối: Do bà Cao Thị N trồng; 01 nhà chính xây năm 2018, 01 bán mái, 01 sân bê tông, cửa xếp, nền gạch đất đỏ nung, 01 nhà bếp, 01 bồn nước, 01 bình nóng lạnh, 01 bộ cửa kình cường lực, tường cay: Do bà Cao Thị N xây dựng.
- Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m², có vị trí đỉnh điểm: B1, A1, A2, B2, B20, B3, A42, A40, B4.
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà chính xây năm 1994 do ông Dương Viết H xây (bố anh Dương Mạnh H), 01 bán mái lợp tôn, cửa cuốn tĩnh điện, 01 bộ kính cường lực, sân bếp lợp tôn, nền sân bếp lát gạch hoa; nhà bếp + phòng ngủ, nhà tắm + vệ sinh, sân trước nhà tắm lát gạch đỏ đất nung; 02 bồn đựng nước 1,5m³, 01 bình nóng lạnh, 01 bệ bếp, 01 chuồng gà. Trong đó, nhà bếp + phòng ngủ do anh Dương Mạnh H xây năm 2018.
- Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 93m², có vị trí đỉnh điểm: B4, A40, A42, B3, B20, B5, A43, A39, B6.
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà chính loại 3C do anh Nguyễn Văn M xây 2018, 01 cửa xếp, mái tôn, 01 sân bê tông, 02 tường xây gạch chỉ, tường bao bán mái bằng, cống thép, 01 bộ bàn bệ bếp, nhà vệ sinh, 01 bồn chứa nước1,5m³, 01 bình nóng lạnh (tài sản của anh Nguyễn Văn M).
- Mảnh đất thứ hai: Thửa đất số 161, tờ bản đồ số 12, diện tích 104m²; tại địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có vị trí đỉnh điểm: B30, B31, B32, B27, B25, B29, B28, B24. Trên đất không có tài sản gì.
- Mảnh đất thứ ba: Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 13, diện tích 718,8m²; tại địa chỉ: Thôn Dốc Mới 1, xã S; huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; có vị trí đỉnh điểm: A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, A15, A16, A17. Trên đất không có tài sản gì.
Thửa đất này bị cấp trùng bởi 02 GCNQSDĐ. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận thửa đất số 13a, tờ bản đồ số 13, diện tích 619m² được cấp GCNQSDĐ số 857838 ngày 21-8-2001, cho hộ bà Cao Thị N và thửa đất số 13b, tờ bản đồ số 13, diện tích 620m² cấp GCNQSDĐ số L169141 ngày 06-02-2019, cho ông Cao Văn Q (GCNQSDĐ đã bị hủy), chỉ là một thửa đất.
- Mảnh đất thứ tư: Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 13, theo GCNQSDĐ cấp lần đầu (năm 2001) cho bà Cao Thị N có diện tích 97m², tại địa chỉ: Thôn Dốc Mới 1, xã S; huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; tại buổi xem xét thẩm định, đương sự xác định diện tích đất tranh chấp có vị trí đỉnh điểm: A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, diện tích đất tranh chấp là 58,5m²; trên đất không có tài sản gì.
Sau khi có kết quả đo đạc, các nguyên đơn rút một phần diện tích đất tranh chấp không yêu cầu giải quyết, cụ thể:
- Mảnh đất thứ nhất: Rút yêu cầu giải quyết các diện tích, gồm: Diện tích 123m² (diện tích số hoá 118,6m²) có vị trí đỉnh thửa B1, A1, A2, B2, B20, B3, A42, A40, B4; diện tích 93m² (diện tích số hoá 96,3m²) có vị trí đỉnh thửa B4, A40, A42, B3, B20, C11, B5, A43, A39, B6; diện tích 0,8m² có vị trí đỉnh thửa A38, A39, A43; diện tích 04m² có vị trí đỉnh thửa A37, B6, A39, A38, C8, C7, C1; diện tích đất 4,2m² có vị trí đỉnh thửa A23, B13, B14, A24; diện tích đất 5,5m² có vị trí đỉnh thửa B12, B13, A23, A22, A21; diện tích 13,3m² có vị trí đỉnh thửa A17, C5, A18, A19, A20; diện tích 0,6m² có vị trí đỉnh thửa A14, A15, A16; diện tích đất 1,7m² có vị trí đỉnh thửa A6, B7, A8, A7; diện tích 4,5m² có vị trí đỉnh thửa A32, A33, A34, A35, B15, A44; diện tích 5,5m² có vị trí đỉnh thửa A11, A12, A13, A14, B10; diện tích 0,9m² có vị trí đỉnh thửa A16, A17, B11. Đối với diện tích 19m² trên sơ hoạ ký hiệu S5, diện tích 07m² ký hiệu S1; 13,1m² ký hiệu S3, các diện tích đất này không nằm trong diện tích đất do bố mẹ để lại, không nằm trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên các nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
- Mảnh đất thứ hai: Rút diện tích 52m² còn lại tiếp giáp ruộng bà Cao Thị N. Các diện tích còn lại khi xem xét thẩm định nằm ngoài thửa đất số 161, tờ bản đồ số 12, do không trong phạm vi khởi kiện nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Mảnh đất thứ ba: Đối với diện tích 1m² có vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3; diện tích 29,6m² có vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8, B3, B2; diện tích 7,4m² có vị trí đỉnh thửa A10, A11, A12, B5; diện tích 4,1m² có vị trí đỉnh thửa A12, A13, A14, đối với các diện tích đất này nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đề nghị đình chỉ xét xử.
- Mảnh đất thứ tư: Đối với diện tích diện tích 4,7m² có vị trí đỉnh thửa A4, A5, A6, A7, khi xem xét thẩm định xác định là đất tranh chấp, tại phiên toà rút yêu cầu đề nghị đình chỉ xét xử.
Tại cấp sơ thẩm, các nguyên đơn xác định diện tích đất tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung còn lại là:
- Mảnh đất thứ nhất: Gồm thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.030m²; thửa đất số 8a, tờ bản đồ số 17, diện tích 240m²; thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m²; thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 93m². Các nguyên đơn yêu cầu chia diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 09 và 08a nêu trên, chia đều cho 03 chị em là bà K, bà T, bà N, chia bằng hiện vật. Còn ông Q không được chia, do đã bán diện tích được chia cho ông Dương Viết H và bà Hoàng Thị T. Diện tích đất tranh chấp có vị trí đỉnh thửa là: A32, A31, A30, A27, A24, A23, A22, A21, A20, A19, A18, C5, A17, B11, A16, A15, A14, B10, A11, B9, A10, B8, A8, A7, A50, A49, B20, B5, A43, A38, C8, C7, C1, A37, A36, A35, B15, A44 (diện tích hơn một nghìn mét vuông, trong phần diện tích yêu cầu chia bao gồm cả 02m làm đường đi xuống ruộng theo biên bản phân chia đất ngày 26-5-1992). Trên đất có tài sản là vật kiến trúc, tường xây của ông Cao Văn Q, tường xây nhà bà Cao Thị N; cây trên đất, giếng nước đã có từ trước, vì vậy ai được quản lý, sử dụng đất thì được quyền sở hữu. Có 01 cột điện thuộc quyền quản lý của Công ty Điện lực Lạng Sơn. Đối với diện tích đất 45,4m² ông Dương Mạnh H có yêu cầu độc lập được quyền quản lý, sử dụng, các nguyên đơn nhất trí.
- Mảnh đất thứ hai: Thửa đất số 161, tờ bản đồ số 12, diện tích 104m². Thửa đất này có một phần là đất riêng của bà N. Tại phiên toà sơ thẩm các nguyên đơn yêu cầu giải quyết lấy 52m² thuộc một phần thửa đất số 161, phần tiếp giáp thửa đất số 09, để chia đều cho 04 chị em, chia bằng hiện vật.
- Mảnh đất thứ ba: Thửa đất số 13a, tờ bản đồ số 13, đề nghị xác định ranh giới thửa đất theo bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, có diện tích là 682,5m² (diện tích phục dựng 685,7m²), theo trích đo phụ lục số 02 có vị trí đỉnh thửa: A1, A3, A4, B1, A5, B2, B3, A8, B4, A10, B5, A12, A14, A15, A16, A17; yêu cầu chia tài sản chung chia đều cho 04 chị em và chia theo hiện vật.
- Mảnh đất thứ tư: Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 13, đề nghị xác định ranh giới thửa đất theo bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, có diện tích 97m² (diện tích phục dựng 95,8m²), theo trích đo phụ lục số 03 có vị trí đỉnh thửa: B1, B2, B3, B4, B5, A4, A7, B6, B7, B8; yêu cầu chia tài sản chung chia đều cho 04 chị em và chia theo hiện vật.
Các nguyên đơn bà Cao Thị K, bà Cao Thị T trình bày: Nguồn gốc 04 mảnh đất trên do bố mẹ các bà khi còn sống và 04 chị em cùng gây dựng. Khi bố mẹ còn sống, 04 mảnh đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng sau khi bố mẹ chết, các chị em trong gia đình vẫn quản lý, sử dụng cùng nhau.
Ngày 26-5-1992, ông Cao Văn Q mời các chị em họp gia đình để phân chia đất ở (mảnh đất thứ nhất). Ông Cao Văn Q nói đã tự đo theo mặt đường 1A là 25m, chia thành 5 phần, mỗi phần 5m theo chiều mặt đường, mỗi chị một phần, còn ông Cao Văn Q là con trai nên được 2 phần. Khi chia đất có lập Biên bản phân chia đất ở thể hiện vị trí đất của mỗi người (có sơ đồ kèm theo), có chữ ký xác nhận của từng người vào biên bản. Việc chia đất ngày 26-5-1992, bao gồm diện tích 370m² thửa đất 61, tờ bản đồ số 16, mà đã cấp GCNQSDĐ tháng 10-1990 cho bà Cao Thị K, bà Cao Thị K nhất trí, không có ý kiến gì.
Ngày 04-8-1992, ông Cao Văn Q bán cho ông Dương Viết H 120m² đất thuộc phần đất ông Cao Văn Q được chia theo Biên bản phân chia đất ngày 26-5-1992 (hiện nay chính là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17). Sau đó, ông Dương Viết H để con trai ông Dương Mạnh H sử dụng thửa đất số 01. Đến năm 2000, ông Cao Văn Q bán thêm cho ông Dương Mạnh H khoảng 50m² đất thuộc một phần thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17 (thể hiện tại Giấy chuyển nhượng viết tay đề ngày 04-12-2000).
Ngày 23-11-1994, bà Cao Thị N chuyển nhượng 100m² đất cho bà Hoàng Thị T, diện tích 100m² đất này ông Cao Văn Q được chia theo biên bản phân chia đất ngày 26-5-1992. Tuy trên giấy tờ bà Cao Thị N là người chuyển nhượng nhưng trên thực tế ông Cao Văn Q là người bán và nhận toàn bộ số tiền của bà Hoàng Thị T. Sau đó, bà Hoàng Thị T bán lại cho vợ chồng chị gái ruột là bà Hoàng Thị Thanh H, ông Chu Ngọc S, sau đó vợ chồng bà Hoàng Thị Thanh H tặng cho con trai là anh Chu Tiến M (hiện nay chính là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17).
Năm 2009, ông Cao Văn Q tách thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.030m² thành 02 thửa đất, gồm thửa đất số 225, tờ bản đồ số 17, diện tích 284m² và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 746m², đến ngày 13-11-2009, UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho ông Cao Văn Q đối với thửa đất số 225.
Sau khi có GCNQSDĐ, ông Cao Văn Q đã tự ý xây nhà trên phần đất bà Tuyết được chia theo biên bản ngày 26-5-1992. Khi bà Cao Thị T biết có ý kiến thì ông Cao Văn Q xây đã gần xong, ông Cao Văn Q nói “Diện tích đất còn nhiều, mai kia chị thích làm nhà chỗ nào thì làm”. Khi đấy, bà Cao Thị T không biết diện tích đất được chia ông Cao Văn Q đã bán hết nên tưởng ông Cao Văn Q để phần đất được chia của ông Cao Văn Q cho bà Cao Thị T, khi đó bà Cao Thị T còn cho ông Cao Văn Q vay 1.000.000 đồng để vào nhà mới.
Đến ngày 13-11-2009, ông Cao Văn Q tiếp tục tách thửa đất số 225, tờ bản đồ số 17, diện tích 284m² thành 02 thửa nhỏ riêng biệt, là thửa 301, diện tích 3,7m² và thửa 225 diện tích 280,3m² (được điều chỉnh tại trang 4 của Giấy chứng nhận). Ngày 08-4-2019, bà Cao Thị T có đơn kiến nghị về việc thừa kế gửi UBND xã. Ngày 06-5-2019, Tổ hòa giải thôn Dốc Mới 1 tiến hành hòa giải, ông Cao Văn Q đề nghị họp gia đình trong vòng 10 ngày để giải quyết. Tuy nhiên ngày 05-6-2019, ông Cao Văn Q đến Văn phòng công chứng Đông Bắc, huyện Cao Lộc chuyển nhượng thửa đất số 09 và thửa đất số 301 cho bà Nguyễn Thị Tuyết M. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sau khi nhận chuyển nhượng, đã thực hiện thủ tục hợp thửa đất số 09 và thửa đất số 301 thành thửa 303, đến ngày 04-7-2019, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 17, diện tích 749,7m².
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2022/HC-ST ngày 09/3/2022, của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, đã quyết định hủy 03 GCNQSDĐ, bao gồm: GCNQSDĐ số L169141 mang tên ông Cao Văn Q đối với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1030m²; GCNQSDĐ số AM770475 mang tên ông Cao Văn Q, bà Phạm Thị B đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 17, diện tích 284m² và GCNQSDĐ số CR573550 mang tên bà Nguyễn Thị Tuyết M đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 17, diện tích 749,7m².
Sau khi bản án hành chính có hiệu lực, các nguyên đơn có báo cho ông Cao Văn Q về họp gia đình nhưng ông Cao Văn Q không về họp cố tình không thi hành theo Bản án nên các nguyên đơn không nhất trí chia cho ông Cao Văn Q 02 phần đất như biên bản ngày 26-5-1992, mà yêu cầu chia đều khối tài sản chung là quyền sử dụng đất 04 mảnh đất trên cho 04 chị em.
Bị đơn bà Cao Thị N trình bày:
Về quan hệ gia đình và việc 04 chị em họp để phân chia đất ở ngày 26-5-1992, việc ông Cao Văn Q chuyển nhượng đất cho ông Dương Viết H, ông Dương Mạnh H (con trai của ông Hiện), bà Hoàng Thị T, bà Nguyễn Thị Tuyết M như các nguyên đơn trình bày là đúng.
Sau khi chia đất theo biên bản ngày 26-5-1992, bà Cao Thị N sử dụng đất được chia liên tục, không có tranh chấp với ai đến ngày 21-8-2001 được UBND huyện cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 8a, tờ bản đồ số 17, diện tích 240m². Năm 2017 xây tường rào, năm 2018 phá nhà cũ để xây nhà và các công trình phụ như hiện nay cũng không có tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, bà Cao Thị N đồng ý chia tài sản chung là mảnh đất thứ nhất, vì thửa đất này 04 chị em đã phân chia ngày 26-5-1992, trong đó bà Cao Thị N tiếp tục được quản lý, sử dụng diện tích đã được chia là diện tích thửa đất số 08a, tờ bản đồ số 17 và diện tích đất này bà Cao Thị N đã xây tường bao. Đối với diện tích đổi với ông Triệu Quang V, bà Cao Thị N và ông Triệu Quang V tự giải quyết với nhau, không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung là mảnh đất thứ hai, thứ ba và thứ tư, bà Nga không đồng ý, vì: Mảnh đất thứ hai thửa đất số 161, diện tích 104m², nguồn gốc đất là của bà Cao Thị N do hợp tác xã chia, năm 1988 bà Cao Thị N cho ông Cao Văn Q làm gạch, sau khi không làm gạch ông Cao Văn Q xin nên năm 1999, ông Cao Văn Q kê khai cấp GCNQSDĐ, vì vậy mảnh đất này thuộc quyền sử dụng của ông Cao Văn Q. Mảnh đất thứ ba thửa đất số 13a, tờ bản đồ số 13, diện tích 682,5m² (cấp GCNQSDĐ lần đầu 619m²) là đất bãi do bà Cao Thị N khai phá năm 1983 để trồng sắn, trồng màu, trồng keo.., ngày 21-8-2001, bà Cao Thị N được UBND huyện cấp GCNQSDĐ theo đúng luật đất đai và có đóng thuế hàng năm, đến năm 2019, thì chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B. Mảnh đất thứ tư thửa đất số 86, tờ bản đồ số 13, diện tích 97m² có nguồn gốc của bà Văn (đã chết), sau khi tan hợp tác bà Cao Thị N mua để trồng rau muống, ngày 21-8-2001, được UBND huyện cấp GCNQSDĐ theo đúng pháp luật, năm 2015 do không còn nhu cầu sử dụng nên chuyển nhượng cho ông Chu Văn Đ.
Về yêu cầu độc lập của ông Dương Mạnh H được quyền quản lý, sử dụng diện tích 45,4m² và sở hữu các tài sản trên đất (bao gồm: Nhà bếp, nhà tắm, chuồng gà và một số công trình phụ khác trên đất), nhất trí không có ý kiến gì.
Đối với các diện tích đất nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đề nghị đình chỉ xét xử và các diện tích nguyên đơn không yêu cầu xem xét giải quyết, nhất trí không có ý kiến gì. Về phần tài sản trên đất các nguyên đơn trình bày bà Nga đồng ý. Về án phí do là người cao tuổi nên đề nghị được miễn án phí.
Bị đơn ông Cao Văn Q trình bày:
Về quan hệ gia đình, việc 04 chị em họp để phân chia đất ở ngày 26/5/1992, và việc ông Cao Văn Q là người chuyển nhượng đất cho ông Dương Viết H, ông Dương Mạnh H (con trai của ông Dương Viết H), bà Hoàng Thị T, bà Nguyễn Thị Tuyết M, như các nguyên đơn trình bày là đúng. Toàn bộ số tiền bán đất ông Cao Văn Q là người nhận và đã sử dụng hết.
Nguồn gốc diện tích đất chia theo biên bản ngày 26-5-1992, là do bố mẹ để lại. Sau khi bán đất cho ông Dương Viết H và bà Hoàng Thị T, phần diện tích còn lại, ông Cao Văn Q đi kê khai và được cấp GCNQSDĐ vào ngày 06-02-1999, đối với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.030m².
Ngày 30-7-2009, ông Cao Văn Q tách thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, thành 02 thửa đất, gồm: Thửa đất số 225, diện tích 284m² và thửa số 09, diện tích 746m², nên ngày 13-11-2009, UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Cao Văn Q và bà Phạm Thị B đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 17, diện tích 284m². Sau đó, khoảng tháng 5-2019, tiếp tục tách thửa đất số 225 thành 02 thửa là thửa 301, diện tích 3,7m² và thửa 302 diện tích 280,3m² (được điều chỉnh tại trang 4 của GCNQSDĐ).
Ngày 05-6-2019, ông Cao Văn Q chuyển nhượng thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 746m² và thửa đất số 301, diện tích 3,7m² cho bà Nguyễn Thị Tuyết M với tổng số tiền 2.600.000.000 đồng. Tuy nhiên, trên thực tế hai bên chỉ thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích đất nằm trong khuôn viên tường bao xây năm 2005, không có diện tích khoảng 50m² bán cho ông Dương Mạnh H năm 2000, phần diện tích đất phía ngoài tường bao thì không chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Tuyết M. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Nguyễn Thị Tuyết M đã thực hiện thủ tục hợp thửa đất số 09 và thửa đất số 301 thành thửa 303 và bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ ngày 04-7-2019, đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 17, diện tích 749,7m² (GCNQSDĐ này đã bị hủy).
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn Q nhất trí một phần, cụ thể: Đối với mảnh đất thứ nhất: Thửa đất số 8a đã được cấp GCNQSDĐ đúng quy định nên hộ bà Cao Thị N có toàn quyền quản lý, sử dụng. Đối với thửa đất số 09, do đã bán khoảng 50m² đất cho ông Dương Mạnh H và bán cho bà Nguyễn Thị Tuyết M (phần diện tích đất nằm trong khuôn viên tường bao xây năm 2005) nên ông Dương Mạnh H và bà Nguyễn Thị Tuyết M có quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất đã mua. Phần diện tích đất còn lại của thửa đất số 09 bà Kĩn và bà Tuyết được quản lý, sử dụng, việc chia như nào do hai bà tự quyết định. Đối với phần diện tích đất bán cho ông Dương Viết H (hiện nay ông Dương Mạnh H đang sử dụng), bán cho bà Hoàng Thị T (hiện nay anh Chu Tiến M đang sử dụng), ông Dương Mạnh H và anh Chu Tiến M tiếp tục được quản lý sử dụng. Đối với nhà và các công trình xây dựng trên đất đều do vợ chồng ông Cao Văn Q xây dựng. Đối với cây trên đất thì chỉ có cây sung và cây mít là tự mọc. Cây khế và cây mác mật là do bà Cao Thị N trồng. Cây vải (cạnh cây hương) là do cụ Nguyễn Thị C trồng năm 1973. Tất cả các cây còn lại tại thửa đất số 09 đều do vợ chồng ông Q trồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về mảnh đất thứ hai, thứ ba và thứ tư nhất trí như ý kiến của bà Cao Thị N, không đồng ý yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung các mảnh đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Dương Mạnh H trình bày:
Ngày 04-8-1992, ông Cao Văn Q bán 120m² đất cho bố ông Hùng là ông Dương Viết H (chính là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m²). Sau đó đến năm 2000, ông Quyết bán cho ông Dương Mạnh H khoảng 50m² thuộc một phần của thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17 và hai bên lập Giấy chuyển nhượng ngày 04-12-2000. Tháng 11-2018, bố mẹ ông H đã làm thủ tục tặng cho ông H thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m². Ông Hùng đã quản lý sử dụng diện tích đất trên từ năm 1992 đến nay, không có ai tranh chấp. Diện tích khoảng 50m² đất mua năm 2000 với ông Cao Văn Q, mọi người đều biết và không có ai phản đối gì, vì vậy ông Dương Mạnh H có yêu cầu độc lập được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 45,4m² (diện tích mua trên thực tế) và được quyền sở hữu các tài sản trên đất (bao gồm: Nhà bếp, nhà tắm, chuồng gà và một số công trình phụ khác trên đất). Về án phí, ông H tự nguyện chịu để nộp ngân sách nhà nước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Ngày 05-6-2019, bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Cao Văn Q lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 746m² và thửa đất số 301, diện tích 3,7m². Trên cơ sở đó bà Mai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ ngày 04-7-2019, đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 17, diện tích 749,7m², GCNQSDĐ này đã bị hủy. Trên giấy tờ hai bên chuyển nhượng diện tích 749,7m², nhưng thực tế hai bên chỉ thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích đất nằm trong khuôn viên tường bao xây năm 2005, không có diện tích khoảng 50m² ông Q bán cho ông H năm 2000 và phần diện tích đất nằm ngoài tường bao. Đối với phần diện tích ông Q bán cho ông H năm 2000, bà M và ông Dương Mạnh H đã cùng nhau xác định phần ranh giới và lập Giấy xác nhận hiện trạng ranh giới đất đề ngày 30/5/2019, để làm căn cứ có sự chứng kiến của bà Phạm Thị B (vợ ông Q). Do đó về yêu cầu độc lập của ông Dương Mạnh H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 45,4m² và sở hữu các tài sản trên đất tranh chấp bà M nhất trí không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung trong đó có phần diện tích đất và tài sản trên đất mà bà M nhận chuyển nhượng của ông Cao Văn Q, bà M không có ý kiến gì, vì tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà M và ông Q bà M đã có đơn yêu cầu Toà án giải quyết bằng một vụ án khác (vụ án đã đình chỉ do bà M rút đơn). Trong trường hợp Tòa án giải quyết chia thửa đất và tài sản trên đất mà bà M đã mua, bà M cũng không có ý kiến gì. Sau này bà M và ông Cao Văn Q sẽ tự thỏa thuận với nhau, trường hợp không thoả thuận được thì bà M sẽ khởi kiện ông Q trong một vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chu Tiến M trình bày:
Anh Chu Tiến M là con trai của ông Chu Ngọc S, bà Hoàng Thị Thanh H. Năm 2009, anh M được bố mẹ tặng cho thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 93m², ngày 10-11-2009, anh M đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất trên. Năm 2018, làm thủ tục cấp đổi và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ ngày 09-02-2018, mang tên Chu Tiến M. Khoảng năm 2018-2019, anh M xây nhà cấp 4 trên đất, hiện nay nhà cấp 4 đang cho vợ chồng anh Lại Văn H, chị Đào Thị Thanh H thuê để làm cửa hàng cơ khí. Quá trình quản lý, sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, từ trước đến nay không có tranh chấp với ai.
Người đại diện theo uỷ quyền của UBND xã S trình bày:
Về các thửa đất ông Cao Văn Q được cấp GCNQSDĐ theo chủ trương chính sách chung của nhà nước. Tại thời điểm đó tất cả các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn có đất, đang sử dụng đất đều đi kê khai cấp giấy theo Luật Đất đai năm 1993. Qua kiểm tra hồ sơ, giấy tờ lưu tại UBND xã như: Sổ Mục kê lập ngày 13-9-1998, tại tờ bản đồ số 17 thửa đất số 09 ông Cao Văn Q có đi kê khai nhận thửa đất mà ông sử dụng, tại sổ Địa chính lập ngày 13-3-1999, quyển số 03, trang 74 kê khai chủ sử dụng đất của từng hộ gia đình, cá nhân có ghi tên ông Cao Văn Q và vợ là bà Phạm Thị B sử dụng các thửa đất nêu trên, tại sổ cấp GCNQSDĐ quyển số 01 lập ngày 10-3-1999, số thứ tự cấp giấy 480, căn cứ pháp lý theo Quyết định số 52 ngày 06-2-1999 số phát hành giấy L169141. Kiểm tra tờ bản đồ địa chính số 17 xã S đo đạc năm 1996 tại thửa đất số 09 là nguyên thửa không có tranh chấp. Từ thời điểm năm 1998-1999 khi ông Q làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho đến đầu năm 2019 sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp, đến tháng 4 năm 2019 thì xảy ra tranh trấp. UBND xã S đã hướng dẫn để làm các thủ tục hòa giải từ thôn đến xã theo quy định nhưng do ông Cao Văn Q đều vắng mặt không có lý do nên buổi hòa giải không thành.
Người đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện H trình bày:
Ngày 09-3-2022, Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2022/HC-ST, tuyên huỷ một phần GCNQSDĐ số L169141 mang tên ông Cao Văn Q đối với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, diện tích 1030m²; huỷ GCNQSDĐ số AM770475 mang tên hộ ông Cao Văn Q, bà Phạm Thị B đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 17, diện tích 284m² và GCNQSDĐ số CR573550 mang tên bà Nguyễn Thị Tuyết M đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 17, diện tích 749,7m². UBND huyện H đã ban hành các Quyết định huỷ GCNQSDĐ số L169141, GCNQSDĐ số AM770475, như vậy, các thửa đất trên hiện nay chưa được cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân nào, đồng tình với nhận định số [6] tại trang 10 của Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2022/HC-ST. Đối với yêu cầu của các nguyên đơn về chia tài sản chung, nguồn gốc thửa đất số 09, tờ bản đồ số 17, do cụ Cao Văn T, cụ Nguyễn Thị C để lại, các chị em trong gia đình đã họp thống nhất chia thửa đất số 09, do đó cần thực hiện theo biên bản họp. Các thửa đất còn lại tại các GCNQSDĐ đã bị huỷ của ông Cao Văn Q cần có sự họp thống nhất bằng văn bản của con ruột các cụ Cao Văn T, Nguyễn Thị C.
Người đại diện theo uỷ quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, Sở Tài nguyên và Môi trường không có ý kiến, đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định. Việc bà Cao Thị K, Cao Thị T cho rằng thửa 13a và 13b bị cấp trùng trên hai GCNQSDĐ là không có cơ sở để đối chiếu có phải cấp trùng không. Về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ bà Cao Thị N cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị B đầy đủ thành phần quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số: 24/2014/TT-BTNMT ngày 19-5-2014, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số: 33/2017/TT-BTNMT ngày 29-9-2017. Thời điểm thực hiện thủ tục chuyển nhượng và cấp GCNQSDĐ không nhận được đơn thư phản ánh về tranh chấp đất đối với thửa đất trên, hồ sơ đảm bảo các điều kiện người sử dụng đất thực hiện các quyền tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Việc Chi nhánh xác nhận chuyển nhượng theo hồ sơ số 002070.CN.001 ngày 04-6-2019, đúng trình tự, thủ tục theo Điều 79 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.
Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Điện lực Lạng Sơn trình bày:
Vị trí cột điện liên quan đến đất tranh chấp, qua xác minh là vị trí cột điện hạ thế số 11 là cột BTLT 8,5m thuộc lộ 1 sau trạm biến áp D do Điện lực H quản lý vận hành. Hiện vị trí cột điện này được chôn trên đất giáp ranh giữa nhà ông Chu Tiến M và nhà ông Cao Văn Q. Từ thời điểm xây dựng năm 2001 đến nay không có ý kiến, kiến nghị của người dân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B, anh Cao Sơn V, anh Cao Tiến N, nhất trí với trình bày của bị đơn ông Cao Văn Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Văn M, chị Phạm Thị V, ông Chu Văn Đ, chị Chu Bích T, ông Triệu Quang V, ông Nông Thành L, nhất trí với trình bày của bị đơn bà Cao Thị N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Viết H, bà Đinh Thị H, anh Dương Thế A, chị Đào Thanh T, ông Trần Công Đ, nhất trí với trình bày của ông Dương Mạnh H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lại Văn H, chị Đào Thị Thanh H nhất trí với trình bày của anh Chu Tiến M.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 29-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Tổng diện tích đất tranh chấp 1.200,5m² có vị trí đỉnh thửa: A32, A31, A30, A27, A24, A23, A22, A21, A20, A19, A18, C5, A17, B11, A16, A15, A14, B10, A11, B9, A10, C14, B8, C15, B33, A8, A7, A50, A49, B20, C11, B5, A43, A38, C8, C7, C1, A37, A36, A35, B15, A44, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án. Trong đó, diện tích các đương sự được quản lý, sử dụng cụ thể như sau:
1.1.1. Bà Cao Thị K được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 322,3m² (trong đó, đất ở tại nông thôn 220m², đất cây lâu năm 102,3m²), địa chỉ Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và được quyền sở hữu tài sản (vật kiến trúc, cây trồng trừ tài sản ông Cao Văn Q phải phá dỡ, di dời tại mục 1.3) trên diện tích đất nêu trên. Diện tích 322,3m², bao gồm:
- Diện tích 144,7m², thuộc một phần thửa đất số 446, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): B15, A35, A36, A37, C1, C2, C6, A46, A45, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 100m², thuộc thửa đất số 445, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C2, C3, C4, C5, A18, A19, A47, C6, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 76m², thuộc một phần thửa đất số 446, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C4, C14, A10, B9, A11, B10, A14, A15, A16, B11, A17, C5, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 1,6m² thuộc một phần thửa đất số 455 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C13, A46, C6, A47, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
Bà Cao Thị K có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
1.1.2. Bà Cao Thị T được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 224,8m² (trong đó, đất ở tại nông thôn 120m², đất cây lâu năm 104,8m²), địa chỉ thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và được quyền sở hữu tài sản (giếng, cây trồng trừ tài sản ông Cao Văn Q phải phá dỡ, di dời tại mục 1.4) trên diện tích đất nêu trên. Diện tích 224,8m², bao gồm:
- Diện tích 120,7m², thuộc một phần thửa đất số 446, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C1, C7, C10, C9, A53, A52, A51, B8, C14, C4, C3, C2, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 103,6m², thuộc một phần thửa đất số 441, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C7, C8, C9, C10, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 0,5m², thuộc một phần thửa đất số 235, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A51, C15, B8, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
Bà Cao Thị T có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
1.1.3. Bà Cao Thị N được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 361,9m²(trong đó, đất ở tại nông thôn 240m², đất cây lâu năm 143,9m²), địa chỉ thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và được quyền sở hữu tài sản (vật kiến trúc, cây trồng) trên diện tích đất nêu trên. Diện tích 369,9m², có vị trí đỉnh thửa A32, A44, B15, A45, A46, C13, A47, A19, A20, A21, A22, A23, A24, A27, A28, A29, A30, A31, bao gồm:
- Diện tích 254,3m² thuộc một phần thửa đất số 8a, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, nay thuộc một phần thửa đất số 455, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020 được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A32, A44, B15, A45, A23, A24, A27, A28, A29, A30, A31, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 107,6m²thuộc một phần thửa đất số 455, 456, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A45, A46, C13, A47, A19, A20, A21, A22, A23, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
Bà Cao Thị N có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đăng ký biến động đất đai tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
1.1.4. Ông Cao Văn Q được quyền quản lý, sử dụng tổng diện tích 269,5m² (trong đó, đất ở tại nông thôn 60m², đất cây lâu năm 209,5m²), địa chỉ thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và được quyền sở hữu tài sản (vật kiến trúc, cây trồng) trên diện tích đất nêu trên. Diện tích 269,5m², có vị trí đỉnh thửa: C8, A38, A43, B5, C11, B20, A49, A50, A7, A8, B33, C15, A51, A52, A53, C9, bao gồm:
- Diện tích 71,6m², thuộc một phần thửa đất 09, tờ bản đồ17, bản đồ địa chính xã S đo vẽ năm 1996; nay thuộc một phần thửa đất số 441, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C8, A38, A43, B5, C11, C12, A53, C9, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 194m², thuộc một phần thửa đất 09, tờ bản đồ 17, bản đồ địa chính xã S đo vẽ năm 1996; nay thuộc một phần thửa đất số 442, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): C11, B20, A49, A50, A51, A52, A53, C12, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Diện tích 3,9m², thuộc một phần thửa đất số 235, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A7, A8, B33, C15, A51, A50, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
Ông Cao Văn Q có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị K, bà Cao Thị T, về chia tài sản chung đối với các diện tích sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung đối vớidiện tích 52m² thuộc một phần thửa đất số 161, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995 nay thuộc một phần thửa đất số 235, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020 địa chỉ Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): B31, B32, B33, B27, B25, B34, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung đối với thửa đất số 13a, tờ bản đồ số 13, diện tích 673,5m², bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, địa chỉ Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A1, A3, A4, A5, B2, B3, A8, A9, A10, B5, A12, A14, A15, A16, A17, thể hiện tại Phụ lục số 02 kèm theo Bản án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 13, diện tích 53,8m² bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, địa chỉ Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A1, A2, A3, A4,, A7, A8, thể hiện tại Phụ lục số 03 kèm theo Bản án.
1.3. Buộc ông Cao Văn Q phải phá dỡ, di dời tài sản trên diện tích đất, được xác định bởi các đỉnh thửa: B15, A35, A36, A37, C1, C2, C6, A46, A45, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án,gồm: 02 hàng gạch xây, 01 bể, để trả lại đất cho bà Cao Thị K.
1.4. Buộc ông Cao Văn Q phải phá dỡ, di dời tài sản trên diện tích đất, được xác định bởi các đỉnh thửa: C1, C7, C8, C9, A53, A52, A51, C15, B8, C14, C4, C3, C2, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án,gồm: Một phần nhà (nhà chính), bếp, chuồng gà, nhà vệ sinh, để trả lại đất cho bà Cao Thị T.
1.5. Buộc bà Cao Thị K, bà Cao Thị N, bà Cao Thị T, ông Cao Văn Q, chấm dứt hành vi tranh chấp quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu tại mục 1.1.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Dương Mạnh H: Ông Dương Mạnh H được quyền quản lý, sử dụng diện tích 45,4m² và sở hữu tài sản trên đất (Nhà bếp, nhà tắm, chuồng gà và một số công trình phụ khác trên đất) thuộc thuộc một phần thửa đất 09, tờ bản đồ 17, bản đồ địa chính xã S đo vẽ năm 1996; nay một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 2020, được xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): B2, A6, A7, A50, A49, B20, thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án. Địa chỉ thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Đình chỉ xét xử
3.1. Đình chỉ xét xử đối với các diện tích thể hiện tại Phụ lục số 01 kèm theo Bản án, gồm:
- Diện tích 116m² thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, có vị trí đỉnh thửa A1, A2, B2, B20, B3, A42, A40.
- Diện tích 88,9m², thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, bản đồ địa chính xã S tỷ lệ 1/1000, lập năm 1995, có vị trí đỉnh thửa A40, A42, B3, B20, C11, B5, A43, A39.
- Diện tích 0,8m² thuộc một phần thửa đất số 220, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã S năm 2020, có vị trí đỉnh thửa A38, A39, A43.
- Diện tích 4,5m² thuộc một phần thửa đất số 455, 456, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã S năm 2020, có vị trí đỉnh thửa A32, A33, A34, A35, B15, A44.
- Diện tích 0,9m² thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 18, bản đồ địa chính xã S năm 1995, có vị trí đỉnh thửa A16, A17, B11.
- Đình chỉ giải quyết đối với diện tích 13,1m² (vị trí đỉnh điểm: A24, A25, A26, A27), diện tích 19m² (vị trí đỉnh điểm: A2, A3, A4, A5, A6, B2).
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nội dung đình chỉ xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
3.2. Đình chỉ xét xử đối với các diện tích thể hiện tại Phụ lục số 02 kèm theo Bản án, gồm: Diện tích 01m²có vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3; diện tích 29,6m² có vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8, B3, B2; diện tích 7,4m² có vị trí đỉnh thửa A10, A11, A12, B5; diện tích 4,1m² có vị trí đỉnh thửa A12, A13, A14.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nội dung đình chỉ xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
3.3. Đình chỉ xét xử đối với diện tích 4,7m² có vị trí đỉnh thửa A4, A5, A6, A7, thể hiện tại Phụ lục số 03 kèm theo Bản án.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nội dung đình chỉ xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
(Có bản Trích đo khu đất, các Phụ lục kèm theo Bản án).
- Về chi phí tố tụng:
4.1. Bà Cao Thị T phải chịu 11.797.000 đồng (mười một triệu bẩy trăm chín mươi bẩy nghìn đồng). Xác nhận bà Cao Thị T đã nộp đủ 11.797.000 đồng (mười một triệu bẩy trăm chín mươi bẩy nghìn đồng).
4.2. Bà Cao Thị K phải chịu 13.233.000 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng). Bà Cao Thị K phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền 13.233.000 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng) cho bà Cao Thị T.
4.3. Bà Cao Thị N phải chịu 5.331.000 đồng (năm triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Bà Cao Thị N phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền 5.331.000 đồng (năm triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng) cho bà Cao Thị T.
4.4. Ông Cao Văn Q phải chịu 3.970.000 đồng (ba triệu chín trăm bẩy mươi nghìn đồng). Ông Cao Văn Q phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền 3.970.000 đồng (ba triệu chín trăm bẩy mươi nghìn đồng) cho bà Cao Thị T.
4.5. Ông Dương Mạnh H phải chịu 669.000 đồng (sáu trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Ông Dương Mạnh H phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền 668.000 đồng (sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) cho bà Cao Thị T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
5.1. Bà Cao Thị K, bà Cao Thị N, bà Cao Thị T, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Ông Cao Văn Q phải chịu 44.355.000 đồng (bốn mươi tư triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.
5.3. Ông Dương Mạnh H tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, để nộp Ngân sách Nhà nước. Xác nhận ông Dương Mạnh H đã nộp đủ 300.000 đồng án phí nêu trên tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004598 ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
5.4. Về án phí phúc thẩm: Các bên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Thị Nguyệt |
Bản án số 31/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN về tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp về quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp.
- Số bản án: 31/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp về quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung, tranh chấp về quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp
