Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 31/2023/HS-ST

Ngày 05 - 12 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thư.

Ông Nguyễn Ngọc Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với.

- Bị cáo: Trương Văn H; sinh năm 1997; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn B; sinh năm 1976 và con bà: Phàn Thị L; sinh năm 1974; có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Lý Thị C; sinh năm 1996 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lục Thùy L1 - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Vắng mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C1 - Viên chức (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 03/2021 (không nhớ ngày) Trương Văn H một mình mang theo 01 máy cưa xăng, màu cam - đen, lam xích dài 80cm và 01 chai dầu nhớt lên khu vực rừng phòng hộ thuộc thôn P, xã Y, huyện B Mục đích tìm gỗ xẻ làm nhà, đến nơi phát hiện 01 cây gỗ còn tươi, đường kính khoảng 90cm, dài 15m, dùng máy cưa xăng cắt đổ xong để nguyên tại hiện trường (mục đích đợi cây khô xẻ làm vai, ván).

Ngày 05/5/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã phối hợp các ngành tiến hành xác định hiện trường, Trương Văn H đến hiện trường chỉ dẫn vị trí gốc cây khai thác trái phép. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định cây gỗ (ký hiệu G1 có tọa độ E: 00461378, N:02519766) bị chặt hạ, khối lượng 12,717m³ (Mười hai phẩy bảy mười bẩy mét khối) và lấy mẫu giám định (ký hiệu M1) gửi đi giám định.

Kết luận giám định ngày 05/6/2023 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh H kết luận: Mẫu gỗ M1 ký hiệu (23015-02), tên Việt Nam: RE LÁ TÙ, tên Việt Nam khác: Quế hương, Q lá tà, R gừng, Re bầu(Tên khoa học: Cinnamomum bejolghota (B-H.ex N1)Sweet). Loài Re lá tù không được xếp trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Gỗ Re lá tù được xếp trong nhóm IV trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L2 (nay là Bộ N2).

Tại Công văn số 15/KL ngày 02/6/2023 của Hạt kiểm lâm huyện B và Công văn số 299/CV-TNMT ngày 06/6/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B xác định; vị trí tọa độ khai thác (E:00461378, N: 02519766) thuộc tiểu khu A; khoảnh 7; lô 4; chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên; chủ rừng: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B

Kết luận định giá tài sản ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 cây gỗ tạp (quế rừng) khối lượng 12,717m³ giá trị 66.128.400 đồng (Sáu mươi sáu triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, bốn trăm đồng).

Vật chứng vụ án:

01 cây gỗ Quế hương, khối lượng là 12,717m³; 01 máy cưa xăng, ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm. Đối với 01 chai nhựa đựng dầu nhớt, Trương Văn H khai thác gỗ xong đã vứt đi nên không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu Trương Văn H bồi thường, lý do cây gỗ Quế hương 12,717m³ vẫn còn nguyên trên rừng.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSBM ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Trương Văn H về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  • - Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trương Văn H từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không; về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 cây gỗ Quế hương khối lượng là 12,717m³. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc máy cưa xăng, ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen; lam xích dài 80cm.
  • - Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa bị cáo Trương Văn H: Gửi luận cứ bào chữa đồng tình quan điểm Viện kiểm sát, bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị xem xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Bị cáo do có nhu cầu làm nhà ở, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo, không có điều kiện về tiền bạc, vật chất để làm nhà nên bị cáo đã nảy sinh ý định lên rừng xẻ gỗ về làm nhà. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo; về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị.

Bị cáo Trương Văn H nhất trí với ý kiến của người bào chữa không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Nguyên đơn dân sự nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không có tranh luận gì.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Trợ giúp viên pháp lý vắng mặt đã gửi Luận cứ bào chữa cho bị cáo Trương Văn H và bị cáo đồng ý xét xử, xét thấy việc vắng mặt trợ giúp viên pháp lý không ảnh hưởng đến việc xét xử, theo quy định Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Tháng 3/2021 (không nhớ ngày) Trương Văn H đã có hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ Quế hương, nhóm IV, tổng khối lượng gỗ khai thác là 12,717m³, giá trị 66.128.400 đồng. Vị trí khai thác tại tiểu khu A, khoảnh 7, lô D thuộc thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; loại rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Điều 232 Bộ luật Hình sự

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy đinh tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 07 mét khối (m³) đến dưới 15 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 05 mét khối (m³) đến dưới 10 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA”.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo biết việc khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện việc khai thác gỗ trái phép. Bị cáo biết hằng năm huyện B phát động phong trào trồng cây, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống sói mòn sạt lở. Huyện B đã có nhiều giải pháp quyết liệt tuyên truyền bảo vệ rừng, nhưng tình hình khai thác gỗ trái phép trên địa bàn vẫn diễn ra rất phức tạp. Bị cáo khai thác trái phép đã gây thiệt hại về tài sản của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường rừng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật. Mục đích do nhu cầu làm nhà ở, đúng ra bị cáo phải xin phép cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép mới được khai thác gỗ, nhưng không xin phép mà tự ý khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật. Nên cần xử lý bằng chế tài Luật hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, lao động chính trong gia đình các con còn nhỏ cần có sự chăm sóc của bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51

của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra ông nội bị cáo có công cách mạng tham gia dân công hỏa tuyến được Nhà nước chứng nhận. Vì vậy áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy cần tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Trương Văn H đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú quy định tại Điều 125, 278 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, là người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây gỗ Quế hương tại hiện trường khối lượng là 12,717m³ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp; đối với 01 máy cưa xăng, ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm là công cụ phạm tội đã cũ, hỏng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Trong vụ án có một số đối tượng liên quan: Bị cáo Trương Văn H ngoài lần phạm tội đã bị bị truy tố, còn có nhiều lần thực hiện hành vi khai thác lâm sản gỗ khác tại khu rừng phòng hộ tại thôn P, xã Y, huyện B cụ thể: Lần thứ nhất: Đầu tháng 03/2022 thực hiện hành vi khai thác 01 cây gỗ nghiến còn tươi, khối lượng 4,078m³ và cắt, xẻ được 30 cái thớt đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; Lần thứ hai: Cuối tháng 03/2022 H và Trương Văn G người cùng thôn thực hiện hành vi cắt đổ 01 cây gỗ nghiến còn tươi, khối lượng 3,999m³, mục đích xẻ gỗ dạng xà đoạn làm nhà ở; Lần thứ ba: Tháng 10/2022 H cùng Trương Văn G, Trương Văn Q1 và Phàn Văn M người cùng thôn thực hiện hành vi xẻ 01 khúc gỗ, dài 1,9m, khối lượng 1,492m³, mục đích xẻ lấy thớt mang bán. Ngoài ra trước đó tháng 02/2019 H tham gia xẻ 01 khúc gỗ cùng với Phàn Văn N người cùng thôn, mục đích xẻ gỗ làm nhà ở giúp N, khối lượng 1,568m³.

Đối với bị cáo Trương Văn H có các lần khai thác gỗ trên có khoảng cách về thời gian, không liên tục, mục đích khai thác khác nhau, vị trí thực hiện hành vi khai thác khác nhau và khối lượng đều dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d, khoản 1 điều 232 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện B Xử phạt VPHC theo quy định là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[11] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị về mức án Trương Văn H từ 09 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo Trương Văn H hộ cận nghèo là người dân tộc thiểu số và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trương Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Trương Văn H cho UBND xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) cây gỗ Quế hương còn lại tại hiện trường khối lượng là 12,717m³ (Mười hai phẩy, bẩy trăm mười bẩy mét khối).

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc máy cưa xăng, trên máy ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm (máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động của máy).

    (Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

  6. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trương Văn H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - UBND xã Y;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 31/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger