Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST

Ngày: 11-08 - 2023

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thànhông Bùi Trọng Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức D (tên gọi khác: D bét), sinh năm 1982; nơi sinh và nơi cư trú: Khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn H, sinh năm 1964; mẹ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; vợ Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1984; con ruột 03 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Ngày 06/03/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, theo bản án hình sự phúc thẩm số 22/2008/HSPT (chấp hành án phạt tù xong ngày 27/08/2008, đến nay bị cáo D chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm); tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 09/01/2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (thi hành án xong ngày 27/4/2004, đã nộp án phí và chấp hành các nghĩa vụ thi hành án dân sự trong bản án).

Ngày 05/01/2016, bị Công an thị xã S ban hành Quyết định số 0010681 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/05/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn H, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965;
  2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1951;
  3. Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1998;
  4. Ông Ngô Văn L, sinh năm 1973;

Cùng trú tại: Khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa.

  1. Bà Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2022, Nguyễn Đức D cùng dòng họ cúng giỗ rồi nhậu tại nhà bà Lê Thị C ở khu phố T, phường X, thị xã S. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi nhậu xong, Nguyễn Đức D nhớ lại chuyện do vợ là Nguyễn Thị Cẩm H1 kể về việc thím của D không phụ giúp dọn dẹp để cúng giỗ mà để một mình mẹ của D là bà Nguyễn Thị Đ dọn dẹp nên đã to tiếng chửi bới mọi người. Thấy D to tiếng, ông Nguyễn H (là cha ruột của D) chửi mắng D nên giữa ông H và D đã xảy ra cãi nhau. Sau đó D về nhà, do bực tức về việc bị ông H chửi mắng nên D tiếp tục đi bộ đến nhà ông H, D dùng tay kéo một chậu hoa để trên trụ hàng rào nhà ông H làm rơi xuống đường bê tông vỡ thành nhiều mảnh, D nhặt mảnh xi măng chân chậu hoa, cứng, chắc, cầm trên tay phải đi về hướng ông H, ông H và D cãi nhau, xô xát, trong lúc ông H và D đứng ôm vật nhau, D dùng tay phải cầm mảnh xi măng nói trên vung đánh trúng vào vùng đầu ông H gây thương tích, thì được mọi người can ngăn nên D đi về nhà. Ông H được mọi người đưa đến trung tâm y tế thị xã S điều trị thương tích. Sau khi gây thương tích cho ông H, D đã trốn khỏi địa phương, đến ngày 26/5/2023 Nguyễn Đức D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S bắt tạm giam về tội Cố ý gây thương tích.

Ngày 13/02/2023, ông Nguyễn H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Đức D.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 03/2023/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tại thời điểm giám định thương tích của Nguyễn H là 04%. Vật tác động: Vật có cạnh.

Vật chứng vụ án: 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng kích thước (14 x 7,5 x 4) cm; 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng kích thước (12,5 x 8 x 3) cm; 01 thẻ nhớ micro SD 32GB, cso in dòng chữ FOFU.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn H không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức D bồi thường thiệt hại.

Cáo trạng số 32/CT-VKSSC ngày 28/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại ông Nguyễn H yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về dân sự.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị Cẩm H1 trình bày: Chị không chứng kiến sự việc bị cáo gây thương tích cho ông Nguyễn H. Sau khi sự việc diễn ra, chị mới có mặt và thấy ông Nguyễn H bị thương, mọi người gọi báo công an.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 32/CT-VKSSC ngày 28/06/2023, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/05/2023.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ các vật chứng gồm 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng kích thước (14 x 7,5 x 4) cm; 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng kích thước (12,5 x 8 x 3) cm. Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ 01 thẻ nhớ micro SD 32GB, có in dòng chữ FOFU.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Trong phần tranh luận:

Bị cáo đồng ý với nội dung bản luận tội, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, ông H và một số người làm chứng vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về tội danh và khung hình phạt; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; mức hình phạt cho bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 10 phút, ngày 19/12/2022 tại khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Đức D có hành vi dùng mảnh bê tông, cứng, chắc (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vùng đầu của ông Nguyễn H (là cha ruột của D) gây thương tích với tỷ lệ 04%. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự thì mảnh bê tông mà bị cáo dùng gây thương tích cho bị hại cha ruột – ông Nguyễn H là hung khí nguy hiểm. Ông Nguyễn H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó, cáo trạng số 32/CT-VKSSC ngày 28/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sau khi sử dụng rượu bia, đã không kiềm chế được bản thân, to tiếng chửi mắng mọi người, nên bị cha mắng lại thì bị cáo đã gây thương tích cho cha của bị cáo – là ông Nguyễn H. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội, gây dư luận xấu. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác, 01 lần bị kết án tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; ngày 06/03/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm nên chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Từ việc xem xét nhân thân, tính chất, mức độ tội phạm, ý kiến của bị hại ông Nguyễn H yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật, bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù và trong khung hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, quá trình lượng hình, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1] Tịch thu tiêu huỷ các công cụ dùng vào việc phạm tội gồm: 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng có kích thước (14 x 7,5 x 4) cm được niêm phong trong túi niêm phong số NS22128734; 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng có kích thước (12,5 x 8 x 3) cm được niêm phong trong túi niêm phong số NS22128743.

[5.2] Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ 01 thẻ nhớ micro SD 32 GB, có in dòng chữ FOFU.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội Cố ý gây thương tích.
  3. Xử phạt: Bị cáo 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/05/2023.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/06/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Sông Cầu gồm: 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng có kích thước (14 x 7,5 x 4) cm được niêm phong trong túi niêm phong số NS22128734; 01 mảnh vỡ bê tông xi măng màu đỏ, vàng có kích thước (12,5 x 8 x 3) cm được niêm phong trong túi niêm phong số NS22128743.

    Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ 01 thẻ nhớ micro SD 32 GB, có in dòng chữ FOFU.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp Phú Yên;
  • - VKSND TX. Sông Cầu;
  • - VKSND tỉnh PY;
  • - CSĐT Công an TX. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX. Sông Cầu;
  • - CQ THA HS TX Sông Cầu;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Thị Ngọc Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 31/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội Cố ý gây thương tích. Xử phạt: Bị cáo 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/05/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger