Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/DS-PT

Ngày: 14/4/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các thẩm phán: Ông Đặng Chí Công.
Bà Cao Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 199/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐ-PT ngày 20/3/2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N. Địa chỉ: B H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy N1. Địa chỉ: A T, phường D, TP ., tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T. Địa chỉ: Tổ A, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Trịnh Đăng H, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số F T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngọc Q. Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Thành T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền cuả nguyên đơn trình bày:

Do có quan hệ quen biết với nhau từ trước nên ngày 01/10/2018, ông Nguyễn Thành T có vay của bà Nguyễn Thị Ngọc N số tiền là 2.200.000.000 đồng, khi vay tiền ông T cam kết trong vòng 12 tháng kể từ ngày viết giấy vay sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh, lãi suất do hai bên tự thoả thuận là 20%/năm. Đến hạn trả tiền ông T nói đang gặp khó khăn nên cứ xin khất lần không trả nợ cho bà N mặc dù bà N đã đòi nhiều lần và ông T cũng đã rất nhiều lần hứa hẹn ngày nay trả ngày mai trả nhưng không trả.

Bà Nguyễn Thị Ngọc N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành T phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 2.200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử, lãi suất là 20%/năm (Tiền lãi tạm tính đến ngày khởi kiện là 2.533.917.808 đồng). Nguyên đơn không đồng ý với ý kiến của bị đơn về việc không trả lãi vì đã hết thời hiệu khởi kiện, trên thực tế bị đơn rất nhiều lần nhắn tin cho nguyên đơn để xin gia hạn về thời hạn trả nợ, đối với yêu cầu của bị đơn về việc trả dần số nợ gốc nguyên đơn không đồng ý vì khoản nợ vay đã lâu, bị đơn xin trả dần nhưng lại không đưa ra được phương án cụ thể để trả nợ.

Tại phiên toà nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Thành T trả cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc N số tiền nợ gốc là 2.200.000.000 đồng và nợ lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày viết giấy vay đến ngày xét xử sơ thẩm. Ngoài ra bà N không có yêu cầu gì khác.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bị đơn có quan hệ quen biết với nguyên đơn, nhiều lần vay mượn tiền của nguyên đơn, tuy nhiên số tiền nợ gốc không phải 2.200.000.000 đồng như nguyên đơn khởi kiện, đối với giấy vay tiền 01/10/2018 chữ ký và chữ viết trong giấy vay tiền này giống với chữ ký và chữ viết của bị đơn. Đối với yêu cầu về tiền lãi bị đơn không đồng ý trả vì đã hết thời hiệu khởi kiện và bị đơn cũng đã có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng.

Tại phiên toà bị đơn thừa nhận ngày 01/10/2018 bị đơn có viết giấy vay của nguyên đơn số tiền 2.200.000.000 đồng trên thực tế khoản vay này là khoản vay của nhiều khoản vay khác cộng lại bao gồm gốc và lãi, lãi suất hai bên thoả thuận là 4-5 %/tháng, bị đơn chỉ thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 01/10/2018 bị đơn viết cho nguyên đơn, do bị đơn đang bị bệnh hiểm nghèo nên không có khả năng trả một lần số tiền nợ cho nguyên đơn xin trả dần số tiền nợ nguyên đơn thừa nhận, đối với yêu cầu về tiền lãi bị đơn không đồng ý trả vì đã hết thời hiệu khởi kiện và bị đơn cũng đã có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, đối với những tin nhắn nguyên đơn cung cấp và cho rằng bị đơn nhắn tin xin gia hạn thời hạn trả nợ, bị đơn thừa nhận là bị đơn nhắn tin cho nguyên đơn nhưng không thể hiện là xin gia hạn thời hạn trả nợ cho khoản vay ngày 01/10/2018.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 199/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc N: Buộc ông Nguyễn Thành T phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc N số tiền 3.562.694.064 đồng, trong đó nợ gốc là 2.200.000.000 đồng và nợ lãi là 1.362.694.064 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án và thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Về kháng cáo:

Ngày 20/12/2024, bị đơn ông Nguyễn Thành T kháng cáo với nội dung: Đề nghị xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ gốc và áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn theo qui định của pháp luật.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
  • - Bị đơn giữ kháng cáo.
  • - Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • - Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Các đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có đơn đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của ông Tiên đề N2 xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ gốc và áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn theo qui định của pháp luật, thấy rằng:

[2.1] Về số nợ gốc: Giữa nguyên đơn bà N và bị đơn ông T có ký kết với nhau Giấy mượn tiền đề ngày 01/10/2018, giấy mượn tiền có họ tên chữ ký của ông Nguyễn Thành T. Theo giấy mượn tiền có nội dung ông T mượn của bà N số tiền gốc 2.200.000.000 đồng. Ông T thừa nhận chữ ký trong giấy mượn tiền là của ông. Sự thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực. Ông T không thừa nhận số tiền vay, ông T chỉ thừa nhận có nợ bà N số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng, trong số tiền 2.200.000.000 đồng ông viết giấy cho bà N bao gồm nhiều khoản vay gốc và lãi cộng lại, ngoài lời khai, ông T không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình, mặt khác nguyên đơn bà N chỉ thừa nhận khoản nợ vay ông Nguyễn Thành T viết cho bà bao gồm nhiều khoản vay gốc cộng lại, toàn bộ khoản vay này là tiền gốc, không bao gồm nợ lãi. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn ông T phải trả cho nguyên đơn bà N số nợ gốc 2.200.000.000 đồng là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.

[2.1] Về yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện bị đơn cho rằng thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vay đã hết nên không tính lãi đối với số tiền vay: Thấy rằng bà N cho ông Nguyễn Thành T vay số tiền 2.200.000.000 đồng trong thời hạn 12 tháng, từ ngày 01/10/20218 đến ngày 01/10/2019, vậy ngày ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 02/10/2019. Thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày 01/10/2018 theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự. Bị đơn ông T thừa nhận đã nhắn tin khất nợ với bà N nằm trong thời gian 3 năm sau khi ký giấy mượn tiền. Bị đơn cho rằng bị đơn chỉ nhắn tin xin khất nợ chứ các bên không thỏa thuận về việc gia hạn khoản nợ. Tại điểm a khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự quy định “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện..;”. Vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định thuộc trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiên và chấp nhận việc đơn yêu cầu tính lãi suất 10%/năm đối với khoản vay là có căn cứ, đúng qui định pháp luật.

Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định của pháp luật.

[4] Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 199/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Cụ thể như sau:

Căn cứ các Điều 5, Điều 26, 35, 39,70,72, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 186, Điều 195, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 234, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 157, 274, 275, 280, 429, 463, 465, 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 24, khoản 1, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc N: Buộc ông Nguyễn Thành T phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc N số tiền 3.562.694.064 đồng, trong đó nợ gốc là 2.200.000.000 đồng và nợ lãi là 1.362.694.064 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Thành T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bà Nguyễn Thị Ngọc N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc N số tiền 56.366.959 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001945 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 001006 ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND TP Pleiku, tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục THADS TP Pleiku, tỉnh Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự, Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 31/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger