TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30A/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2025 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo và ông Trần Mai Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 404/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 539/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Cao Văn B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm 6, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm 6, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Hàn Quốc. (vắng mặt lần thứ 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, anh Cao Văn B trình bày:
Anh Cao Văn B và chị Hoàng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ngày 14/10/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung. Năm 2015, hai vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Năm 2023 anh B về Việt Nam, còn chị H vẫn tiếp tục ở lại Hàn Quốc. Gần đây hai vợ chồng ít liên lạc, tình cảm vợ chồng không còn, sống xa cách, ít quan tâm đến nhau. Nên anh làm đơn xin ly hôn với chị Hoàng Thị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Hoàng Anh, sinh ngày 25/8/2017. Nếu ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu chị Hoàng Thị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do bận công việc nên anh B đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.
Về phía chị Hoàng Thị H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu chị H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị H theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại chị Hoàng Thị H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu bà Cao Thị Hà (mẹ của chị H) cung cấp địa chỉ của chị H tại nước ngoài. Theo trình bày của mẹ chị H thì hiện tại chị H đang sinh sống tại Hàn Quốc, có điện thoại về cho gia đình nhưng chị H không cung cấp địa chỉ cho bà Hà biết; bà đã thông báo cho chị H đã biết việc anh B làm đơn ly hôn chị tại Tòa án. Chị H đồng ý ly hôn anh Cao Văn B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ được quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 BLTTDS.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh Cao Văn B và chị Hoàng Thị H, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ngày 14/10/2014, trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung đi lao động tại Hàn Quốc. Đến năm 2023 anh B về nước, chị H vẫn ở lại Hàn Quốc. Từ đó mâu thuẫn hai vợ chồng sảy ra, hai vợ chồng hiện nay không còn liên lạc với nhau. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh B yêu cầu được ly hôn với chị H. Xét thấy, hiện nay tình cảm vợ chồng anh B và chị H không còn, vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ cho anh B được ly hôn chị H.
Về con chung: Có 01 con chung là Cao Hoàng Anh sinh ngày 15/8/2017, hiện do đang ở với anh B. Ly hôn anh B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng con.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không nhận được ý kiến hợp pháp của chị H. Xét thấy:
Hiện nay chị H đang sống và làm việc tại nước ngoài. Nguyên đơn và thân nhân cũng không cung cấp được địa chỉ của chị H ở nước ngoài, nên không có đủ điều kiện nuôi con. Hiện nay con chung của anh B, chị H đang do anh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ly hôn anh B có nguyện vọng được nuôi con. Vì vậy, để tạo điều kiện phát triển toàn diện cho cháu, đề nghị HĐXX giao con chung của anh B, chị H cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xét.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 479 BLTTDS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: Căn cứ kết quả trả lời của Cục quản lý xuất nhập cảnh thì chị Hoàng Thị H, sinh ngày 18/10/1998 tại Nghệ An, CMND số [...], khai hộ khẩu thường trú tại xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đã sử dụng hộ chiếu số C03116457 để xuất cảnh ngày 04/09/2015 qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do chị H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, theo trình bày của bà Cao Thị Hà thì chị H hiện đang lao động ở Hàn Quốc, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể; chị H đã biết việc anh B làm đơn ly hôn chị tại Tòa án, chị H đồng ý ly hôn. Đến ngày xét xử vụ án chị H không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, chị H đã biết được anh B yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về nội dung: Anh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Hoàng Thị H. Xét thấy, anh Cao Văn B và chị Hoàng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ngày 14/10/2014. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì ít liên lạc, tình cảm vợ chồng không còn, sống xa cách, ít quan tâm đến nhau. Vì vậy, giải quyết cho anh Cao Văn B được ly hôn chị Hoàng Thị H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Hoàng Anh, sinh ngày 25/8/2017, ly hôn anh B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay, chị H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Anh Cao Văn B đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung cháu cháu Cao Hoàng Anh cho anh Cao Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con, phù hợp nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Dành quyền khởi kiện đòi lại quyền nuôi con sau khi ly hôn cho chị H.
- Về cấp dưỡng: Anh B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các dương sự khi có yêu cầu.
- Tài sản chung và nợ chung: Anh Cao Văn B không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Cao Văn B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Văn B..
- Về hôn nhân: Cho anh Cao Văn B được ly hôn với chị Hoàng Thị H.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung cháu cháu Cao Hoàng Anh, sinh ngày 25/8/2017 cho anh Cao Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Anh Cao Văn B không yêu cầu chị Hoàng Thị H cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Cao Văn B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013186 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Anh Cao Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Chị Hoàng Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Anh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Anh |
Bản án số 30A/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 30A/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ sơ thẩm
