Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Nga
  2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 445/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1762/2024/QĐXXST ngày 04/11/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chí P; Giới tính: Nam; Sinh năm 1989, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không; Nghề nghiệp: Nhặt ve chai; Trình độ văn hoá: Lớp 01/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1957; Con bà Diêm Thế N, sinh năm 1963; Có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1983 nhỏ nhất là bị cáo; Vợ con: chưa có; Tiền sự: Không;

Năm 2023 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản bán hình sự sơ thẩm số 242/2023/HSST ngày 27/9/2023. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2024, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/4/2024 (bút lục 185, 187).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản bán hình sự sơ thẩm số 69/2017/HSST ngày 17/3/2017. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2019 (bút lục 185, 189).

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (T), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

2. Lương Thị Ánh T; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1976, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 186/28 đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: 330/60/9, Tổ G, ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 07/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lương Văn K (đã chết); Con bà: không rõ; Có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1974 và nhỏ nhất sinh năm 1978; chồng con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (T), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

3. Võ Minh V; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 574, Tổ I, Khu phố Đ, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 04/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Võ Văn C, sinh năm 1965; Con bà Phan Thị H, sinh năm 1966; Có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985 và nhỏ nhất sinh năm 1997; chồng con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (T), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Nguyễn Trọng C1; Địa chỉ: B đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tạ Thanh T1; Địa chỉ: 2 Quốc lộ A cũ, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chí P là đối tượng vừa chấp hành xong án phạt tù và sống chung như vợ chồng với Lương Thị Ánh T tại phường A, Quận A (cả hai cùng làm nghề nhặt ve chai). Vào khoảng 23 giờ ngày 08/05/2024, khi đi nhặt ve chai ngang qua địa chỉ nhà số B đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, thì P phát hiện có xe mô tô biển số 36B6-123.42 dựng trước nhà. Đến khoảng 03 giờ ngày 09/05/2024, sau khi nhặt ve chai về ngang địa chỉ trên, P vẫn nhìn thấy xe mô tô biển số 36B6-123.42 dựng tại đây mà không có người trông coi nên P nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. P dừng xe lôi cách vị trí xe mô tô biển số 36B6-123.42 khoảng 300 mét rồi P nói cho T biết việc P sẽ lấy trộm xe mô tô trên, T khuyên can nhưng P không nghe theo, P nói T ngồi trên xe lôi đợi P đi lấy xe mô tô trên thì T đồng ý.

P quay lại lấy trộm xe mô tô biển số 36B6-123.42 và dẫn bộ xe cất giấu vào bụi cây gần đó khoảng 50 mét. Sau đó, P quay lại chỗ T và nói cho T biết việc đã lấy trộm xe trên. P tiếp tục điều khiển xe lôi chở T về nhà trọ tại số D Khu phố C, phường A, Quận A. Tại đây, P rủ T quay lại nơi P cất giấu xe mô tô biển số 36B6-123.42 lấy đưa về nhà trọ thì T đồng ý, rồi P điều khiển xe mô tô biển số 51X1-4592 chở T ngồi sau quay lại nơi cất giấu xe mô tô biển số C, P dừng xe cách khoảng 50 mét, để T ngồi đợi, P đi đến bụi cây để lấy xe mô tô biển số 36B6-123.42. Sau khi lấy xe mô tô biển số 36B6-123.42 từ nơi cất giấu, P dắt bộ tới chỗ T đang ngồi đợi. Sau đó, P nói T ngồi lên xe mô tô biển số 36B6-123.42 cầm lái còn P điều khiển xe mô tô biển số 51X1-4592 dùng chân đẩy về nhà trọ của P và T cất giấu. Khoảng 5 giờ 45 phút cùng ngày, P tháo dây điện, đấu nối nguồn nhưng không khởi động được máy, nên P nói T tiếp tục ngồi lên xe mô tô trên cầm lái, để P điều khiển xe mô tô biển số 51X1-4592 đẩy từ phía sau đi tìm nơi sửa ổ khóa.

Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 09/5/2024, khi đến tiệm S số C, Khu phố B, Phường E, quận G, do anh Phạm Minh T2 làm chủ thì P nói anh T2 sửa và làm chìa khóa xe mô tô biển số 36B6-123.42, trong lúc đợi T2 sửa xe thì P nhìn thấy Võ Minh V đang ngồi tại địa chỉ 3, đường D, Phường E, quận G nên P hỏi V có mua xe mô tô biển số 36B6-123.42 không, P bán với giá tiền 1.500.000 đồng. V hỏi nguồn gốc xe mô tô biển số 36B6-123.42, P nói vừa lấy được của người khác. P và V thỏa thuận giá mua bán xe mô tô biển số 36B6-123.42 là 1.200.000 đồng. Hiện P1 và T đã tiêu xài hết số tiền trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Chí P, Lương Thị Ánh T, Võ Minh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập (bút lục 41-44; 46-48;60-65;160-168).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 166/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 36B6-123.42 có trị giá số tiền là: 13.000.000 đồng (bút lục 217-231).

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 36B6–123.42, số máy G3D4E587913, số khung RLCUG0610HY562983. Kết quả xác minh xe mô tô trên do ông Nguyễn Trọng C1, Nơi thường trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đứng tên đăng ký. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông C1 (bút lục 199-200).
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 51X1-4592, số khung VTPCH002YNS002075, số máy LC152FMH01742575. Kết quả xác minh xe mô tô trên do ông Tạ Thanh H1, Nơi thường trú: 255/12, đường Q cũ, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký. Qua xác minh, hiện nay ông Tạ Thanh H1 không còn cư trú tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã gửi Công văn đề nghị Báo Công an Thành phố H đăng tin tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả (bút lục 192-193).
  • 01 (một) USB chứa dữ liệu hình ảnh ghi nhận vụ trộm cắp tài sản (lưu theo hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: anh Nguyễn Trọng C1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp nên không yêu cầu bồi thường (bút lục 201-202).

Tại Bản cáo trạng số: 262/CT-VKS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí P và Lương Thị Ánh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Võ Minh V, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ T 06 tháng đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo V từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo P tự nguyện nộp lại số tiền 1.200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo V không yêu cầu bị cáo P phải trả lại cho bị cáo V số tiền 1.200.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, bản ảnh xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 03 giờ ngày 09/05/2024, Nguyễn Chí P và Lương Thị Ánh T có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 36B6-123.42 qua định giá xe mô tô trên có giá trị là 13.000.000 đồng của anh Nguyễn Trọng C1 tại địa chỉ nhà số B đường T, Khu phố B, phường T, Quận A và bán cho Võ Minh V thì bị phát hiện bắt giữ.

Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Chí P và Lương Thị Ánh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Đối với bị cáo Võ Minh V tuy không hứa hẹn trước nhưng khi biết rõ xe mô tô mà Nguyễn Chí P bán là do phạm tội mà có nhưng vẫn thu mua với giá rẻ hơn giá thị trường đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Phạm Minh T2 là thợ sửa xe, khi P mang xe đến sửa thì P nói với T2 là xe mua ve chai, T2 không biết sự thỏa thuận mua bán xe giữa P, T và V.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội.

Bị cáo P đã nhiều lần phạm tội và mới chấp hành xong hình phạt tù theo bản án của Tòa Gò Vấp chưa được xóa án tích vẫn không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên lần này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Mặc khác bị cáo P cũng là người trực tiếp phạm tội, và bị cáo P là người rủ bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội nên nên bị cáo P phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo T. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với bị cáo Lương Thị Ánh T cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải;

Đối với Võ Minh V cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải;

[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

- Về xử lý vật chứng:

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

- Ghi nhận cơ quan điều tra công an Q đã trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Trọng C1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 36B6–123.42, số máy G3D4E587913, số khung RLCUG0610HY562983.

- Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 1.200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

- Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 51X1-4592, số khung VTPCH002YNS002075, số máy LC152FMH01742575. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo P, T, V phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí P: 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2024.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lương Thị Ánh T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2024.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Minh V 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2024.

Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 51X1-4592, số khung VTPCH002YNS002075, số máy LC152FMH01742575. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 229/QĐ-VKS, ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 1.200.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo P, T, V phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 309/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger