Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 309/2024/HS-ST

Ngày 31/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Bà Trần Thị Oanh

2 - Ông Bùi Bá Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Giang - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 258/2024/TLST, ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024 ngày 14/10/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 11/2024 ngày 28/10/2024, của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn V, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Hồng Đ và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Khoàng Thị C đã ly hôn năm 2015; Con: có 01 con, sinh năm 2011; D chỉ bản số 573 ngày 26/7/2024 tại Công an quận N;

Tiền án: Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/5/2023, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án, về tội “Trộm cắp tài sản”, (Trị giá tài sản 22.795.000 đồng). Phạm tội lần này là tái phạm, trong thời gian thử thách của án treo.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam ngày 18/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an H, số giam: 3820E29. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1997; HKTT: Xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V hiện đang thuê phòng trọ tại ngõ B đường M, M, N, Hà Nội. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/07/2024, Võ ngủ dậy nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 89F1- 464.44 của anh Nguyễn Mạnh C1 (SN: 1997; HKTT: xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên) dựng ở sân khu trọ, xe có khóa bánh sau bằng khóa chữ U nên V nảy sinh ý định trộm cắp xe máy trên để bán lấy tiền tiêu sài. Võ quan sát xung quanh khu trọ thấy không có người nên đã lấy cưa sắt tại tủ đựng đồ tại sân khu trọ rồi cưa đứt khóa chữ U của xe máy và tiếp tục dùng kìm bằng kim loại bên trong tủ đựng đồ để tháo biển kiểm soát xe sau đó đấu nguồn điện (do V trước đây có học nghề sửa xe máy nên biết cách đấu điện) và đề nổ máy xe sau đó lấy xe đi đến khu vực nghĩa trang L thì vứt biển kiểm soát cùng khóa chữ U tại đây rồi điều khiển đến cửa hàng sửa chữa xe của anh Vũ Công T1 (Sinh năm: 1985; HKTT: xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên) tại số A N, phường N, quận C, Hà Nội để sửa xe (thay ổ khóa, nắn lại càng xe, thay má phanh trước), với lý do xe bị rơi mất chìa khóa. Anh T1 đồng ý sửa xe cho V và hẹn ba ngày sau quay lại lấy. Đến ngày 16/7/2024, anh C1 vô tình đi qua cửa hàng sửa chữa xe máy của anh T1 tại số A đường N thì phát hiện chiếc xe của mình bị mất trộm đang để tại đây nên đã đến cơ quan Công an trình báo. Công an phường M sau khi tiếp nhận tin báo của anh C1, đã tiến hành thu giữ tang vật để xác minh làm rõ.

Ngày 18/07/2024, Trần Văn V đến Công an phường M, quận N đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc không gắn biển kiểm soát (số khung: RLHJA3917KY366186; số máy: JA39E-1229364); 01 kìm bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 2cm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 157 ngày 14/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, xác định: 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu đen, không gắn biển kiểm soát, SK: 3917KY363186, SM: JA39E1229364, sản xuất năm 2019, đã qua sử dụng có trị giá tài sản là: 8.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu đen bạc không gắn biển kiểm soát (số khung: RLHJA3917KY366186; số máy: JA39E-1229364), qua điều tra xác định: Xe đứng tên đăng ký chủ sở hữu là anh Nguyễn Mạnh C1; xe có số khung, số máy là số nguyên thủy và không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.

Ngày 13/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chiếc xe máy Honda Wave, màu đen, không gắn biển kiểm soát (SK: 3917KY363186, SM: JA39E1229364) cho anh Nguyễn Mạnh C1. Anh C1 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

2

Đối với 01 kìm bằng kim loại và 01 lưỡi cưa bằng kim loại thu giữ của Trần Văn V: quá trình điều tra xác định đây là đồ dùng của anh Nguyễn Quốc P (SN: 1979; HKTT: phường M, quận N, Hà Nội) – là chủ nhà trọ cất trong tủ đồ chung của khu trọ để sửa chữa đồ đạc bị hư hỏng. Do anh P không biết việc Trần Văn V sử dụng những đồ vật trên làm công cụ phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Nguyễn Công T2, quá trình điều tra xác định khi nhận sửa chữa xe cho V, anh T2 khai không biết chiếc xe này là do V trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 254/CT-VKSNTL ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận ra sai phạm, xin được xem xét giảm nhẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn V mức án từ 12 – 15 tháng tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/05/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội có hiệu luật pháp luật. Tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành từ 24 - 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/01/2023 đến ngày 21/01/2023 theo bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/05/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội có hiệu lực pháp luật. Về dân sự: Không. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, người bị hại có trong hồ sơ và tại phiên toà, đủ cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 11/7/2024, tại nhà trọ cuối ngõ B đường M, M, N, Hà Nội, Trần văn V đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS 89F1-464-44 được trị gái 8.000.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh C1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian là thỏa đáng. Nhân thân bị cáo đã có tiền án theo bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/05/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội về tội “Trộm cắp tài sản”, bị phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng, như vậy bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm và phải chịu tổng hợp hình phạt 12 tháng tù án treo cải tạo ngoài xã hội thành 12 tháng tù với hình phạt bản án đang xét xử.

Song khi lượng hình cũng xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

[4]. Vật chứng: 01 kìm bằng kim loại; 01 lưỡi cưa bằng kim loại cho tịch thu tiêu huỷ.

[5]. Về dân sự: Anh Nguyễn Mạnh C1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 56 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.

4

Xử phạt: Trần Văn V 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/05/2023, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội có hiệu pháp luật, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 27 ( hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/01/2023 đến ngày 21/01/2023, theo bản án số 73/2023/HS-ST ngày 30/05/2023, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội.

Dân sự: Không. Về hình phạt bổ sung: Không.

Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc cưa bằng kim loại đã qua sử dụng, bị han dỉ, dài 30cm; 01 kìm bằng kim loại đã qua sử dụng, bị han dỉ, dài 15 cm. Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 08 ngày 11/10/2024.

2- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Sở tư pháp Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Quang Long

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 309/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Võ phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger