|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 309/2024/HS-ST
Ngày 22-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 310/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hoàng Anh T, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Phước; thường trú: Số F, Tổ D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế: trình độ học vấn 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn V, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1966; bị cáo có ba anh, em ruột, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2001; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị G, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
Ngày 18/5/2018, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương tuyên phạt 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, về tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/6/2019. Đóng án phí vào ngày 20/8/2018.
Ngày 05/11/2019, bị Toà án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/11/2021. Đóng án phí vào ngày 25/02/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Khánh V1, sinh năm 1963; địa chỉ: Số D, đường S, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Võ Nữ Tô Thanh T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A, đường Đ, Khu A, ấp Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Bà Võ Thị Trúc V2, sinh năm 1998; địa chỉ: Đ, thôn Q, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thế V3, sinh năm 1985; địa chỉ: số A đường T, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Văng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Cẩm T2, sinh năm 1984, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ, ngày 12/5/2024, Trần Hoàng Anh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809 gắn biển số 60B8-004.38 đi trên tuyến đường S, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đi đến phía trước tiệm T3 đường S, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để mua nước uống. Lúc này, T thấy chị Nguyễn Thị Khánh V1, sinh năm 1963, thường trú: Số D, đường S, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương là chủ tiệm tạp hoá đang ngồi ở tiệm tạp hoá, trên tay chị V1 cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xám đen để hát Karaoke bằng loa di động nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của chị V1. T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809 gắn biển số 60B8-004.38 chạy lên áp sát chỗ chị V1 đang ngồi, rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xám đen của chị V1 đang cầm trên tay, làm điện thoại bị rơi xuống đất rồi T tăng ga bỏ chạy được khoảng 10m thì bị mất tay lái nên té ngã xuống đường. Anh Nguyễn Cẩm T2, sinh năm 1984, thường trú: 2/4 khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nghe chị V1 truy hô nên đi đến cùng người dân bắt giữ Trần Hoàng Anh T giao cho công an phường Đ, thành phố D.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám đen;
- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809 gắn biển số 60B8-004.38.
* Tại kết luận định giá tài sản số 91/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám đen (đã qua sử dụng) trị giá 2.100.000 đồng;
Tại Cáo trạng số 308/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Hoàng Anh T về Tội cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Hoàng Anh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về Tội cướp giật tài sản.
Về xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xám đen, là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Khánh V1, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho chị V1.
+ Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809: qua xác minh, xe được cấp biển số 81L1-024.94 do chị Võ Thị Trúc V2, sinh năm 1998, thường trú: Thôn Q, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2020, chị V2 đã bán chiếc xe cho cửa hàng xe máy Văn Minh, tại địa chỉ số B đường T phường Đ, Thị xã A, tỉnh Gia Lai. Sau đó, cửa hàng xe máy Văn M đã bán lại chiếc xe cho người khác không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không tìm được nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe môtô trên.
Đối với biển số xe 60B8-004.38, qua xác minh được cấp cho xe môtô nhãn hiệu Vespa 150 màu vàng do chị Võ Nữ Tô Thanh T1, sinh năm 1972, thường trú: Khu A, ấp Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2012, chị T1 đã bán lại chiếc xe cho 01 người không rõ nhân thân, lai lịch, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Khánh V1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 19 giờ, ngày 12/5/2024, tại tiệm T4 số D đường S, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Hoàng Anh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809 (gắn biển số 60B8-004.38) rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xám đen của chị V1 đang cầm trên tay, giá trị điện thoại 2.100.000 đồng. Hành vi nêu trên của Trần Hoàng Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Như vậy, hành vi của bị cáo sử dụng xe mô tô giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xám đen của bị hại có trị giá 2.100.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành Tội cướp giật tài sản theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 308/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trần Hoàng Anh T về Tội cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu, bị cáo đã từng thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù bị cáo T đã được xóa án tích nhưng điều này chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, lười lao động. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Xử lý vật chứng:
Đối với biển số xe 60B8-004.38, qua xác minh được cấp cho xe môtô nhãn hiệu Vespa 150 màu vàng do chị Võ Nữ Tô Thanh T1 là chủ sở hữu. Chị T1 đã bán lại chiếc xe cho 01 người không rõ nhân thân, lai lịch nên tịch thu tiêu hủy đối với biển số trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809 81L1-024.94, qua xác minh chị Võ Thị Trúc V2 là chủ sở hữu, đã bán lại qua nhiều người. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không tìm được nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Khánh V1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vá xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy biển số xe 60B8-004.38.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ-đen, số khung RLCE55P10EY380786, số máy 55P1380809, dung tích xi lanh 134cc, tình trạng xe không có kính chiếu hậu hai bên.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/10//2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Hoàng Anh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 309/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 309/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Hoàng Anh T phạm tội Tội cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự
