|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 309/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Duy Bảo
2. Ông Trần Ngọc Đăng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Trọng H1; Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; Địa chỉ: Số F, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Hồ Văn Á, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2024, bản tự khai ngày 11/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: chị và anh Hồ Văn Á kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/05/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến cuối năm 2018 hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ khi anh Á đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hòa Liên bang Đ, vợ chồng không thường xuyên liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần, không hỗ trợ nhau trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ khi anh Á đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cho đến nay. Hiện nay, xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hồ Văn Á. Tuy nhiên, do chị H và anh Á đã lâu không liên lạc với nhau, mà anh Á cũng không cung cấp địa chỉ cho chị H nên chị Nguyễn Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Hồ Văn Á tại nước Cộng hòa Liên bang Đ, mà chỉ biết anh Á thường xuyên liên lạc với cha, mẹ đẻ là ông Hồ Sỹ T, sinh ngày 03/02/1962 và bà Đặng Thị H2, sinh ngày 15/10/1964; cùng trú tại địa chỉ xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và ông T, bà H2 biết thông tin, địa chỉ cụ thể của anh Á tại nước Cộng hòa Liên bang Đ, nên đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị và anh Hồ Văn Á có 02 con chung là Hồ Thị Quỳnh A, sinh ngày 25/01/2015 và Hồ Lê N, sinh ngày 08/05/2017. Hiện nay, hai cháu đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là Quỳnh A và Lê N, không yêu cầu anh Hồ Văn Á cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn là anh Hồ Văn Á vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 7388/QLXNC-P3 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Cục Q – Bộ C thì: “Có trường hợp Hồ Văn Á, sinh ngày 19/10/1986 tại Nghệ An, CMND số [...]; khai hộ khẩu thường trú tại: H, H, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số B7549699 để xuất cảnh ngày 16/08/2017 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Tại Công văn số 12300/QLXNC-P3 ngày 13/06/2024 của Cục Q - Bộ C cũng xác định: “Hồ Văn Á, sinh ngày 19/10/1986, đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 16/08/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh Á ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh Á vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại biên bản xác minh ngày 22/07/2024, bà Đặng Thị H2 – sinh năm 1964 (mẹ đẻ anh Hồ Văn Á) trình bày: Bà là mẹ đẻ anh Hồ Văn Á, sinh năm 1986. Anh Á kết hôn hợp pháp với chị Nguyễn Thị H và có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Quỳnh A, sinh năm 2015 và cháu Hồ Lê N, sinh năm 2017. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với mẹ. Anh Hồ Văn Á hiện đang sinh sống và làm việc tại nước Cộng hòa Liên bang Đ. Bà H2 cho biết anh Á thường xuyên liên lạc với bà qua điện thoại, nên khi nhận được thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ và các văn bản khác của Toà án thì bà đã thông tin cho anh Hồ Văn Á được biết về việc cung cấp địa chỉ và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị H cho Tòa án. Tuy nhiên, hiện nay, do anh Á đang sinh sống tại nước Cộng hòa Liên bang Đ nhưng không có nơi cư trú ổn định, nên không thể cung cấp địa chỉ tại nước Đ cho Tòa án và không thể gửi văn bản về cho Tòa án được. Đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của chị H, bà H2 cho biết anh Á đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Văn Á.
- + Về con chung: Giao hai cháu Hồ Thị Quỳnh A – sinh ngày 25/01/2015 và Hồ Lê N – sinh ngày 08/05/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Văn Á do chị H chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14/3/2024, chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hồ Văn Á. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn Á đều có nơi đăng ký thường trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; tuy nhiên anh Hồ Văn Á đã đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hòa Liên bang Đ. Theo kết quả xác minh tại Cục Q – Bộ C tại Công văn số 7388/QLXNC-P3 ngày 11/04/2024 và Công văn số 12300/QLXNC-P3 ngày 13/06/2024 thì anh Hồ Văn Á đã xuất cảnh qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Hồ Văn Á, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Hồ Văn Á hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Á tại nước ngoài nhưng theo bà Đặng Thị H2 (mẹ đẻ của anh Á) thì anh Á vẫn thường xuyên liên lạc với bà H2 và gia đình qua điện thoại; bà H2 đã thông tin cho anh Á được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh Á tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị H nhưng anh Á vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hồ Văn Á.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn Á được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh Á lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống với nhau là không dài, anh Á đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm nay, cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn Á có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Quỳnh A, sinh ngày 25/01/2015 và Hồ Lê N, sinh ngày 08/05/2017. Hiện nay, cả hai cháu đều do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Quỳnh A và Lê N, không yêu cầu anh Hồ Văn Á cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, từ khi anh Á đi nước ngoài đến nay, hai cháu đã sinh sống với chị H, được chăm sóc phát triển hoàn toàn bình thường. Hiện nay, anh Á đang ở nước ngoài, bà H2 (mẹ anh Á) cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh Á tại nước ngoài. Do đó yêu cầu được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Vì vậy, cần giao cả hai cháu Quỳnh A và Lê N cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, cũng như nguyện vọng của hai cháu, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Quỳnh A và Lê N nhưng không yêu cầu anh Á cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Á cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hồ Văn Á.
- Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Hồ Thị Quỳnh A, sinh ngày 25/01/2015 và Hồ Lê N, sinh ngày 08/05/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn Á không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
Anh Hồ Văn Á có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Hồ Văn Á trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu và anh Hồ Văn Á chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012808 ngày 26/04/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hồ Văn Á có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận: - Các đương sự, - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 36/2014 ngày 16/05/2014); - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 309/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 309/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị H và anh A
