Hệ thống pháp luật

TỈNH ĐẮK LẮK

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2025/HS-PT

Ngày: 16/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Đặng Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/TLPT-HS ngày 01/10/2025, đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HSST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn V (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 17/4/1974, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1948; vợ Lê Thị T, có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Ông Trần Công T1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là: Thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 06/8/2024, tại nhà ông Hồ Khanh A thuộc thôn P, xã H, thị xã Đ (nay là Thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk), bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Đức T2, Trần Văn M, Trần Công T1 và một số người khác đều là thợ làm nhà cho ông A cùng nhậu. Khoảng 21 giờ cùng ngày, V và những người khác vẫn tiếp tục nhậu, còn T1, M, T2 và H rủ nhau đến quán T3 thuộc thôn P, xã H, thị xã Đ (gần nhà ông A) để đánh bida. Quá trình đánh bida, T2 đánh trật bi, T1 cầm ly bia mời T2 nhưng T2 không uống nên T2 và T1 xảy ra mâu thuẫn. Thấy vậy, M ôm, đẩy T1 kéo ra đường, T2 đi theo sau thì T1 dùng tay đẩy T2 nên T2 dùng tay đánh một cái trúng mặt T1, tiếp đến M dùng tay đánh một cái trúng vùng mặt của T1. Sau đó, T2 tiếp tục giằng co, đánh nhau với T1. Mẫn bẻ cây cơ bida, cầm một đoạn cơ bida bị gãy đánh trúng vùng lưng của T1 nhưng không gây thương tích, thấy vậy H và Nguyễn Thành S chạy đến căn ngăn, giật lấy cây cơ bida trên tay M. Lúc này, V đang nhậu trong nhà ông A ra ngoài đi vệ sinh thì thấy T2 và T1 giằng co đánh nhau nên V nhặt một thanh kim loại hình hộp chữ nhật, rỗng bên trong tại sân nhà ông A chạy đến đánh 02 cái trúng đầu và vai của T1 gây thương tích thì H can ngăn. Sau đó, T1 đến Cơ quan công an trình báo sự việc và được đưa đến Bệnh viện để điều trị thương tích.

Bản kết luận giám định số 386/KLTTCT-PYPY ngày 20/9/2024 và Công văn số 10/CVGĐ-PYPY ngày 14/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận: Thương tích của Trần Công T1 là 17%, do vật có cạnh và vật tày gây ra. Tỉ lệ tổn thương ở vùng mặt của nạn nhân T1 là 15%.

* Tại Bản án sơ thẩm số 02/2025/HSST ngày 18/7/2025 của TAND khu vực 12 – Đắk Lắk, đã quyết định:

- Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V; Các điều 136, 292, 293, 298, 321, 331, 333, 463 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V: 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Đức T2, Trần Văn M và tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Kháng cáo: Ngày 21/7/2025, bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Các bị cáo Lê Đức T2 và Trần Văn M không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm cũng như lời khai của các bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra.

Kiểm sát viên tranh luận và đề nghị: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại 13.400.000 đồng, được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, mới phát sinh tại cấp phúc thẩm; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 BLHS cho bị cáo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên không có căn cứ cho bị cáo hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa án sơ thẩm về hình phạt; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 năm 04 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y, lời khai của các đồng phạm Lê Đức T2, Trần Văn M và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/8/2024, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk), do có mâu thuẫn trong quá trình chơi bi da, Lê Đức T2 và Trần Văn M có hành vi dùng tay đánh vào vùng mặt của Trần Công T1 gây thương tích tổng tỷ lệ là 15%. Khi bị cáo Nguyễn Văn V thấy T2 và T1 đang xô xát, bị cáo không can ngăn mà sử dụng một thanh kim loại hình hộp chữ nhật đánh vào vùng đầu và vai của T1 gây thương tích 02%, là tiếp nhận, thống nhất ý chí và hành động của T2 và M nhằm mục đích gây thương tích cho T1; bản thân bị cáo không có mâu thuẫn với T1 nhưng vô cớ đánh T1 là hành vi có tính chất côn đồ. Mặc dù bị cáo V chỉ gây thương tích cho T1 với tỷ lệ là 02% nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cho hậu quả thương tích 17% do các bị cáo cùng gây ra cho T1. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Vạn tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, vai trò đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của bị cáo V để xử phạt hai năm tù là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo: Bị cáo V chỉ trực tiếp gây thương tích 02% cho bị hại. Tại cấp phúc thẩm, cung cấp thêm chứng cứ xác định sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo V đã tự nguyện bồi thường số tiền 13.400.000 đồng còn lại cho bị hại là thể hiện thái độ thật sự ăn năn hối cải; bị hại T1 có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo, áp dụng thêm Điều 54 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cố gắng cải tạo thành công dân tốt.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên kháng cáo xin hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Nguyễn Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 02/2025/HSST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk về điều luật áp dụng và mức hình phạt.

[2] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 12 - Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 12 - Đắk Lắk;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo Nguyễn Văn Vạn;
  • - Bị hại Trân Công Thiên;
  • - Lưu Tòa án và lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2025/HS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 309/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger