|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 309/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hoa |
| Bà Nguyễn Thị Ngân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 330/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988;
- Số định danh cá nhân: 040088029077
- Địa chỉ cư trú: Tổ A, Khu phố E, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Vi Thị H1, sinh năm 1976;
- Số định danh cá nhân: 040176007201
- Địa chỉ trước xuất cảnh: Xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
- Hiện cư trú tại: N Canada; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày:
Anh và chị Vi Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 20 tháng 02 năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm và tính cách của vợ chồng khác nhau, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Đến khoảng tháng 7/2023, chị H1 đi xuất khẩu lao động ở nước Canada. Thời gian đầu vợ chồng có liên lạc, nhưng sau đó vì bận công việc nên không còn liên lạc với nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần mất đi. Hiện tại, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vi Thị H1.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị Vi Thị H1 không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Ngọc H hiện đang cư trú tại tỉnh Bình Phước, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Vi Thị H1, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của chị Vi Thị H1 là ông Vi Hải V (cha của chị H1) đến lần thứ hai mà thân nhân của chị H1 cũng không cung cấp địa chỉ của chị H1 ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, chị H1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, ông Vi Hải V (cha của chị H1) trình bày: Chị Vi Thị H1 là con của ông, hiện nay đang lao động ở nước Canada, thỉnh thoảng chị H1 có liên lạc về gia đình. Tuy nhiên, do chị H1 không cung cấp địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ của chị H1 ở nước ngoài cho Tòa án được. Về phía chị H1 đã biết anh H nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, việc chị Vi Thị H1 vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Ngọc H, cho anh H được ly hôn với chị Vi Thị H1. Về con chung: Theo anh H trình bày, anh và chị H1 không có con chung nên đề nghị không xem xét, giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu và chị H1 chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Ngọc H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Bình Phước, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vi Thị H1 hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, chị H1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn chị Vi Thị H1 không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị H1 vẫn cố tình vắng mặt.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh H phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà anh đã nộp cho Tòa án. Bị đơn chị Vi Thị H1 hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H1 thông qua người thân là ông Vi Hải V (cha của chị H1) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của chị Vi Thị H1”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu chị H1 trình bày ý kiến về việc anh H có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của chị H1 cũng không cung cấp địa chỉ của chị H1 ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía ông Vi Hải V (cha của chị H1) trình bày: Chị Vi Thị H1 là con của ông, hiện nay đang lao động ở nước Canada, thỉnh thoảng chị H1 có liên lạc về gia đình. Tuy nhiên, do chị H1 không cung cấp địa chỉ nên gia đình không thể cung cấp địa chỉ của chị H1 ở nước ngoài cho Tòa án được. Về phía chị H1 đã biết anh H nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 09/6/2025 và lần thứ hai vào ngày 27/6/2025 nhưng cả hai lần chị H1 đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc chị Vi Thị H1 vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc H và chị Vi Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 20 tháng 02 năm 2020, là hôn nhân hợp pháp. Theo anh H trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm và tính cách của vợ chồng khác nhau, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Đến tháng 7/2023, chị H1 đi xuất khẩu lao động ở nước Canada. Thời gian đầu vợ chồng có liên lạc, nhưng sau đó vì bận công việc nên không còn liên lạc với nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần mất đi. Theo Công văn số 1609/QLXNC-Đ1 ngày 28/4/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh N cung cấp: Chị Vi Thị H1 đã xuất cảnh ngày 05/7/2023 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Ngọc H và chị Vi Thị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Theo anh Nguyễn Ngọc H trình bày, anh và chị H1 không có con chung, anh không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc H không yêu cầu và chị Vi Thị H1 chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Vi Thị H1.
- Về con chung: Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh H đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007761 ngày 26/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Ngọc H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Ngọc H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Chị Vi Thị H1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 309/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 309/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H - Vi Thị H - ly hôn
