Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-6-2025

V/v: ly hôn, nuôi con chung giữa

chị Trần Thị Mai Lan và anh

Nguyễn Đình Hoà

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng

Bà Nguyễn Thị Minh Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mai L, sinh ngày 15-02-1994; Cư trú tại: Thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: [...]. Có đơn đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh ngày 25-02-1989; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An; Hiện đang chấp hành án tại Đội 8, P - Trại giam V - Cục C - Bộ C1; Số căn cước công dân: [...]. Có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 26-4-2025, Bản tự khai ngày 13-5-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Mai L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình Hòa kết H1 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 24-10-2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, (huyện M cũ), nay là thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm và hiện nay anh H đang phải chấp hành án tại Trại giam V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Đình H.

Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam. Hiện cháu A đang ở cùng với chị L tại địa chỉ thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Chị L có nguyện vọng, nếu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh H thì giao cháu A cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có nên chị L không đề nghị Toà án giải quyết.

2. Tại Bản tự khai ngày 16-5-2025, bị đơn là anh Nguyễn Đình H trình bày:

Về hôn nhân: Anh H thống nhất với các nội dung chị L trình bày về quan hệ hôn nhân và việc phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị L, và anh cũng đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh H thống nhất với nội dung trình bày của chị L về việc anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam, hiện đang ở với chị L. Anh H có quan điểm, hiện nay do anh đang đi chấp hành án nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, anh Hòa đồng Ý giao cháu A cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sau này khi anh H chấp hành án xong sẽ làm thủ tục đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có nên anh H không đề nghị Toà án giải quyết.

3. Kết quả xác minh ngày 03-6-2025 của Toà án tại địa phương nơi chị Trần Thị Mai L cư trú xác nhận: Chị Trần Thị Mai L, sinh năm 1994 và anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1989 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M cũ (nay là Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N), tỉnh Nam Định ngày 24-10-2020 trên cơ sở tự nguyện. Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam. Về việc chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm được. Hiện tại chị L và cháu Nguyễn Bình A đang sinh sống tại địa chỉ: Thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, còn anh H đang đi chấp hành án.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh H đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L. Về con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí ly hôn sơ thẩm, nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị Mai L có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Nguyễn Đình H. Xét thấy, tranh chấp giữa chị L và anh H là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Trần Thị Mai L và bị đơn là anh Nguyễn Đình H có đơn lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

[1.3] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H đều có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L và anh H.

[2] Về nội dung vụ án.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình Hòa kết H1 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 24-10-2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, (huyện M cũ), nay là thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh H phải đi chấp hành án do hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L và anh H đều có quan điểm thống nhất về việc yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, và anh H có quan điểm đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải.

Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H hiện đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam.

Xét thấy, hiện anh H đang phải đi chấp hành án phạt tù và từ khi anh H đi chấp hành án, cháu A đã sinh sống và học tập ổn định cùng chị L và do chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị L và anh H đều thống nhất quan điểm giao cháu A cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam.

Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Mai L về việc không yêu cầu anh Nguyễn Đình H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị L và anh H không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn là chị Trần Thị Mai L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam; Số định danh cá nhân: 036221008962.

    Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Đình H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Nguyễn Đình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Mai L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) chị Trần Thị Mai L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002777 ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
  4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H có quyền kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Thị Mai L và chị Nguyễn Đình H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND TP. Nam Định

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

- UBND xã Mỹ Hà, TP. Nam Định

(ĐK 24-10-2020)

- Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 309/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Đình H. 2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị Mai L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 09-8-2021, giới tính: Nam; Số định danh cá nhân: 036221008962. Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Đình H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger