|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 309/2025/DS-PT
Ngày: 20-10-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Xô
Ông Nguyễn Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (cơ sở 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 231/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Lâm Đồng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 438/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 297/2025/QĐ-PT ngày 12/9/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 332a/2025/QĐ-PT ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ V, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (cũ). Địa chỉ: Khu phố D, phường P, tỉnh Lâm Đồng (mới).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (cũ). Địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Lâm Đồng (mới)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ G, khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (cũ). Địa chỉ: Tổ G, khu phố C, phường H, tỉnh Lâm Đồng (mới).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H1: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H.
Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Ngọc S và bà Phạm Thị Ngọc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện ngày 13/9/2024 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc S trình bày:
Ngày 08/7/2021, bà Lê Thị Mỹ V có cho bà Phạm Thị Ngọc H vay 174.500.000 đồng tiền mặt (một trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng), lãi suất 4%tháng, thời hạn vay 6 tháng từ ngày 08/7/2021 đến 07/01/2022. Việc cho vay tiền có làm hợp đồng thỏa thuận ngày 08/7/2021, để bảo đảm thu hồi nợ bà V có nhận thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 412164 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 13/4/2011 đứng tên Phạm Thị Ngọc H. Khi đến hạn trả tiền, bà V đòi nhiều lần nhưng bà H không trả. Vì vậy, bà Lê Thị Mỹ V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc buộc bà Phạm Thị Ngọc H trả cho vợ chồng bà Lê Thị Mỹ V và ông Nguyễn Văn H1 số tiền gốc 174.500.000 đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và lãi trong hạn 1,66%/tháng tính từ ngày 08/7/2021 đến ngày 07/01/2022 là 17.380.000đ, lãi quá hạn từ ngày 08/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (16/5/2025) là 174.962.000đ (147.500.000₫ x 150% x 1,66% x 40 tháng 8 ngày). Tổng cộng: 366.842.000 đồng (ba trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn đồng).
* Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H trình bày:
Ngày 08/7/2021, bà có vay của bà Lê Thị Mỹ V số tiền 150.000.000 đồng tiền mặt (một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất hàng tháng 5%, thời hạn vay 06 tháng. Bà đã trả lãi cho bà V 3 tháng là 22.500.000 đồng. Bà có thế chấp cho bà V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 412164 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 13/4/2011 đứng tên Phạm Thị Ngọc H. Nay bà V yêu cầu bà trả tiền gốc 174.500.000 đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng), lãi trong hạn là 17.380.000đ, lãi quá hạn là 174.962.000₫ (147.500.000₫ x 150% x 1,66% x 40 tháng 8 ngày). Tổng cộng: 366.842.000 đồng (ba trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn đồng) thì bà không đồng ý mà chỉ đồng ý trả cho bà V 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng) còn tiền lãi là bà xin giảm vì hiện nay gia đình bà có hoàn cảnh khó khăn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc S trình bày: Ông Nguyễn Văn H1 là chồng của bà Lê Thị Mỹ V, theo lời trình bày của bà V là đúng ông H1 không bổ sung gì, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Ngọc H trả cho vợ chồng ông bà tổng cộng 366.842.000₫.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Lâm Đồng) đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 470 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ V, buộc bà Phạm Thị Ngọc H phải trả cho vợ chồng bà Lê Thị Mỹ V và ông Nguyễn Văn H1 số tiền gốc 366.842.000đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn đồng) bao gồm: Tiền gốc 174.500.000 đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và lãi trong hạn 1,66%/tháng tính từ ngày 08/7/2021 đến ngày 07/01/2022 là 17.380.000đ, lãi quá hạn từ ngày 08/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (16/5/2025) là 174.962.000₫ (147.500.000đ x 150% x 1,66% x 40 tháng 8 ngày).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2025, bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận đối với số tiền vay thực tế là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), không chấp nhận đối với yêu cầu về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Căn cứ vào nội dung Hợp đồng thỏa thuận ngày 08/7/2021 thể hiện nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V có cho bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H vay số tiền 174.500.000 đồng (Một trăm bảy mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng), lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 6 tháng (từ 08/7/2021-07/01/2022). Do đó, xác định đây là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và có lãi nên có đủ cơ sở xác định hợp đồng vay tiền này đã phát sinh hiệu lực pháp luật, đến hạn trả nợ nhưng bị đơn bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ của mình nên nguyên đơn bà V yêu cầu bà H phải trả số tiền gốc đã vay 174.500.000 đồng và lãi suất trong hạn 1,66%/tháng (tính từ ngày 08/7/2021 đến ngày 07/01/2022) là 17.380.000 đồng, lãi suất quá hạn (tính từ ngày 08/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/5/2025) là 174.962.000 đồng (174 .500.000₫ x 150% x 1,66% x 40 tháng x 8 ngày). Tổng cộng: 366.842.000₫.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H cho rằng, bà có ký vào giấy vay tiền của bà V nhưng bà chỉ vay bà V số tiền gốc 150.000.000 đồng, không phải số tiền 174.500.000 đồng, có giấy vay tiền ngày 08/01/2021 nhưng con gái bà đang giữ nên bà không cung cấp được cho Tòa án. Tại Bản án số 97/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 bà H là nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà V về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà H khai giấy vay tiền ngày 08/01/2021 là do bà V giữ; người đại diện theo ủy quyền của bà V cho rằng bà V và bà H chỉ lập hợp đồng thỏa thuận ngày 08/7/2021, không có giấy vay tiền ngày 08/01/2021 như bà H khai. Xét thấy lời khai của bà H là bất nhất, bà phản đối yêu cầu của bà V về số tiền gốc nhưng bà không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho ý kiến của bà là có căn cứ nên không được chấp nhận. Ngoài ra, bà H còn cho rằng đã trả lãi cho bà V 03 tháng, mỗi tháng 7.500.000 đồng nhưng bà V không thừa nhận; bà H cũng không cung cấp được giấy tờ chứng minh nên không được chấp nhận.
[3.3] Từ những nhận định trên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V, buộc bà H phải trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho bà V là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ V được chấp nhận toàn bộ nên bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Lê Thị Mỹ V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà Phạm Thị Ngọc H (sinh năm 1957) là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Lâm Đồng).
[2] Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 91; Điều 92; Điều 93; Điều 94; Điều 95; Điều 262; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 470 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V, buộc bà Phạm Thị Ngọc H phải trả cho vợ chồng bà Lê Thị Mỹ V và ông Nguyễn Văn H1 tổng số tiền 366.842.000đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng, trong đó tiền gốc 174.500.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 17.380.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 174.962.000 đồng).
“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Lê Thị Mỹ V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.273.000đ (Tám triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0013773 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
Bà Phạm Thị Ngọc H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/10/2025)
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 309/2025/DS-PT ngày 20/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 309/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
