TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 309/2024/HS-ST Ngày: 20-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Phi Hổ;
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 284/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2024/QĐXXST-HS, ngày 23/5/2024, đối với:
Bị cáo: Đậu Văn L, sinh năm 1994 tại Quảng Bình. Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã C, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đậu Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Trần Thị V, sinh năm 1970. Bị cáo chưa có vợ con.
- Tiền án: Ngày 23/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 71/2019/HS-ST.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Công Y, sinh năm 1999.
Địa chỉ: A, tổ F, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đậu Văn L là nhân viên trông coi tiệm Internet "Thành Long" tại địa chỉ số A, đường H, khu phố E, phường L, thành phố B do anh Nguyên Văn D (sinh năm 1982) làm chủ.
Khoảng 23 giờ ngày 26/4/2021, anh Nguyễn Công Y1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi, biển số 67L1- 899.16 đến tiệm Internet "Thành Long" để chơi game, anh Y để xe trước cửa quán nhưng chìa khóa vẫn cắm sẵn trên xe. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 27/4/2021, anh Y đến quầy thu ngân nơi L đang ngồi để sạc pin chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb của mình rồi vào phòng tại quán để nằm ngủ. Khoảng 01 giờ cùng ngày, lợi dụng anh Y đang ngủ thì L đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động nêu trên và xe mô tô biển số 67L1 -899.16 của anh Y rồi điều khiển xe tẩu thoát đến quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Do lo sợ điện thoại di động của anh Y có tính năng định vị và sẽ bị phát hiện nên L đã ném chiếc điện thoại xuống sông thuộc khu vực cầu A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 30/4/2021, L điều khiển xe mô tô biển số 67L1 - 899.16 trộm cắp của anh Y đi về đến khu vực phường T, thành phố T thì bị lực công an phường T kiểm tra và mời về trụ sở làm việc do L không cung cấp được giấy tờ xe. Tại đây, L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nên công an phường T, thành phố T lập hồ sơ bàn giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi, màu đỏ - ghi xám, biển số 67L1 - 899.16 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Công Y.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb, của anh Nguyễn Công Y sau khi lấy trộm thì Đậu Văn L đã vứt xuống sông thuộc khu vực cầu A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- 01 (một) USB chứa dữ liệu về vụ trộm cắp tài sản xảy ra vào ngày 27/4/2021 tại quán Internet "T" thuộc tổ B, khu phố E, phường L (lưu tại hồ sơ).
- 01 (một) căn cước công dân mang tên Đậu Văn L là tài sản cá nhân của L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho L.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Công Y yêu cầu bị cáo Đậu Văn L bồi thường số tiền 23.783.100 đồng.
Tại Kết luận giám định số 190/KL- HĐĐGTS ngày 04/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi, biển số 67L1-899.16 trị giá 25.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb trị giá 23.783.100 đồng.
Tại Cáo trạng số 274/CT-VKSBH, ngày 07/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Đậu Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đậu Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng
khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không gửi bài bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa:
Bị cáo Đậu Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đây là sự tự nguyện của bị cáo và không trái với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo.
- Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/4/2021, tại quán Internet "Thành Long", địa chỉ số A, đường H, khu phố E, phường L, thành phố B, Đậu Văn L đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Công Y1 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi, biển số 67L1 - 899.16 trị giá 25.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb trị giá 23.783.100 đồng thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý. Tổng giá trị tải sản Đậu Văn L đã trộm cắp là 48.783.100 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 71/2019/HS-ST. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Bị cáo đang phải chấp hành phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 71/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ngày 27/4/2021 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là phạm tội mới trong thời gian thử thách. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù 12 tháng của Bản án số 71/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb bị trộm cắp là 23.783.100 đồng.
- Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Fi, màu đỏ - ghi xám, biển số 67L1 - 899.16 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Công Y là đúng quy định pháp luật.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Gold 128Gb, của anh Nguyễn Công Y sau khi lấy trộm thì Đậu Văn L đã vứt xuống sông thuộc khu vực cầu A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- 01 (một) USB chứa dữ liệu về vụ trộm cắp tài sản xảy ra vào ngày 27/4/2021 tại quán Internet "T" thuộc tổ B, khu phố E, phường L (lưu tại hồ sơ).
- 01 (một) căn cước công dân mang tên Đậu Văn L là tài sản cá nhân của L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho L là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền buộc bị cáo bồi thường
cho bị hại là 1.189.000 đồng (đã đóng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0002628 ngày 22/3/2022 và số 0001864 ngày 16/9/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
- Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đậu Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt: Căn cứ Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 71/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, buộc bị cáo Đậu Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ từ ngày 30/4/2021 đến 30/7/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Buộc bị cáo Đậu Văn L phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Công Y số tiền 23.783.100 (hai mươi ba triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn một trăm) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bên có nghĩa vụ thi hành xong nghĩa vụ trả tiền, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đậu Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; 1.189.000 (một triệu một trăm tám mươi chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. (Đã đóng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0002628 ngày 22/3/2022 và số 0001864 ngày 16/9/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
- Về quyền kháng cáo: Căn Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 309/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 309/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
