Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 309/2024/DS-PT

Ngày: 16-4-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Hữu Thái

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Toại

Bà Mai Trần Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 140/2024/TLPT-DS ngày 23/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 250/2023/DS-ST ngày 20/9/2023, của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1257/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 3959/2024/QĐPT-DS ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Nguyễn Lan A, sinh năm 1974 (có mặt)

Địa chỉ: 1 phần nhà A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Lý Quang P, sinh năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền lập ngày 25/11/2022)

Bị đơn: Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 (tên cũ: Trường THPT Q)

Trụ sở: Số B N, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Út E, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1995

Địa chỉ cư trú: A đường B, xã T, huyện H.

Địa chỉ liên lạc: 220 Nguyễn Văn T, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2Nguyễn Thị Út E.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Lan A và người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Lý Quang P trình bày:

Ngày 02/08/2013, bà Nguyễn Lan A và Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 (tên cũ là Trường THPT Q) (Sau đây viết tắt là Trường Q) ký Hợp đồng vay vốn số 46-13/QTM-HĐVV được công chứng tại Phòng công chứng số 01 Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 020702 quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD. Theo hợp đồng nêu trên, bà Nguyễn Lan A cho T1 Quốc tế M vay số tiền 1.272.600.000 đồng; đồng thời, trong ngày 02/8/2013 giữa bà Nguyễn Lan ATrường Q ký Phụ lục hợp đồng số 46-13/QTM/HĐVV-PLHĐ về việc điều chỉnh số tiền cho vay từ Việt Nam đồng sang tương đương 60.000 USD (Bằng chữ: Sáu mươi nghìn đô la Mỹ).

Theo hợp đồng vay vốn, thời hạn vay là từ ngày 02/08/2013 đến ngày bé Vũ M1 (con bà Nguyễn Lan A) hoàn tất chương trình đào tạo tại Trường Q. Thời hạn trả tiền: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bé Vũ Minh h hết lớp 12. Hình thức trả: Thanh toán một lần tương đương số tiền được quy đổi từ 60.000 USD sang đồng Việt Nam, theo tỷ giá của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N tại thời điểm Trường Quốc tế M hoàn trả tiền.

Thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Lan A đã chuyển số tiền 1.272.600.000 đồng cho Trường Q thông qua 02 Phiếu thu ngày 31/7/2013 và Phiếu thu ngày 03/8/2013.

Vũ M1 kết thúc việc học tại Trường Q vào ngày 29/5/2021. Như vậy, theo hợp đồng Trường Q phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền vay cho bà Nguyễn Lan A hạn cuối là ngày 30/6/2021. Đến hạn trả, T1 Quốc tế Mỹ vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà Lan A.

Sau nhiều lần trao đổi, đốc thúc về việc trả nợ, ngày 14 tháng 01 năm 2022, Trường Q gửi Công văn số 07/01 KT-QTM/22 cam kết hoàn trả tiền cho bà Nguyễn Lan A với tiến trình trả như sau: Đợt 1 chậm nhất là ngày 31 tháng 3 năm 2022 hoàn trả số tiền 30.000 USD, đợt 2 chậm nhất là ngày 31 tháng 5 năm 2022 hoàn trả số tiền 30.000 USD. Việc hoàn trả được thanh toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bán của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N tại thời điểm hoàn trả. Hết thời hạn trả nợ T1 Quốc tế M vẫn không trả số tiền như đã cam kết dù đã quá hạn rất lâu. Trong quá trình vụ án đang giải quyết, Trường Q tiếp tục gửi email đề nghị trả tiền cho bà Nguyễn Lan A với thời gian như sau: Chậm nhất ngày 31/3/2023 hoàn trả số tiền 30.000 USD; chậm nhất ngày 31/5/2023 hoàn trả số tiền 30.000 USD. Tuy nhiên, đến thời điểm Tòa án xét xử vụ án, T1 Quốc tế Mỹ vẫn không trả nợ cho bà Nguyễn Lan A đúng như cam kết.

Do đó, bà Nguyễn Lan A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 trả số tiền là 1.473.000.000 đồng (tương đương 60.000 USD được quy đổi theo tỷ giá bán của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N ngày 20/9/2023 là 01 USD = 24.550 đồng), yêu cầu trả làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 11/08/2023, bà Nguyễn Lan A đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc T1 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Mỹ trả nợ tiền lãi tính từ ngày 30/6/2021 đến ngày 14/7/2022 là 81.104.461 đồng. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Lan A xác định xin rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 11/8/2023. Bà Nguyễn Lan A không yêu cầu tính lãi chậm trả cho đến khi T1 Quốc tế Mỹ thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2: trong quá trình giải quyết sơ thẩm đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, không có người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 250/2023/DS-ST ngày 20/9/2023, của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 225; Điều 227, Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 385, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lan A.

    Buộc Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Lan A số tiền 1.473.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm bảy mươi ba triệu đồng) theo Hợp đồng vay vốn số 46-13/QTM-HĐVV ngày 02/8/2013 và Phụ lục hợp đồng số 46-13/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 02/8/2013.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc bà Nguyễn Lan A yêu cầu Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 trả tiền lãi do chậm trả đối với số tiền 81.104.461 đồng.

    Ghi nhận bà Lan A không yêu cầu tính lãi chậm trả cho đến khi T1 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Ngày 19/10/2023, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Nguyễn Thị Út E có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Phía nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phía bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập Công ty Cổ phần G tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự do T1 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 là Chi nhánh của Công ty Cổ phần G và không có tư cách pháp nhân. Mặt khác, việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp với nội dung khách quan của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp cho thấy Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 là chi nhánh của Công ty Cổ phần G, hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp (Điều 4). Do đó, cần đưa Công ty Cổ phần G vào tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định

- Về thủ tục:

[1] Đơn kháng cáo của Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 trong hạn luật định nên được chấp nhận về thủ tục kháng cáo.

[2] Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xác định đúng quan hệ tranh chấp, xét xử đúng thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục tống đạt cho bị đơn vào các ngày 28/3/2023 (để nhận thông báo thụ lý, cung cấp lời khai), ngày 01/8/2023 (thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải), ngày 18/8/2023 (nhận quyết định xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa), ngày 13/9/2023 (nhận quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa). Việc xét xử vắng mặt bị đơn của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè là đúng pháp luật.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng:

[3.1] Căn cứ Văn bản số 2764/SGDĐT-GDNCL ngày 05/6/2023 xác định Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Mỹ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H cho phép thành lập tại Quyết định số 432/QĐ-UBND ngày 30/01/2019 và được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động giáo dục tại Quyết định số 1473/QĐ-GDĐT-TC ngày 13/6/2019. Theo Quyết định số 432/QĐ-UBND ngày 30/01/2019, T1 có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của nhà nước.

[3.2] Khoản 2 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 13/2011/TT-BGDĐT của Bộ G1 có quy định: “Trường P1 có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại”.

Vì vậy, Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 hoàn toàn có đủ tư cách tham gia tố tụng độc lập, nếu không có tình tiết pháp lý khác.

[3.3.] Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh (Mã số chi nhánh 0315331710-001) do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H (cấp đăng ký lần đầu ngày 31/10/2018, đăng ký thay đổi lần 4 ngày 10/02/2023) cho thấy Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 là chi nhánh của Công ty Cổ phần G. Tại Điều 4 quy định “hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp” và tên doanh nghiệp là Công ty Cổ phần G, do đó, phải đưa Công ty Cổ phần G vào tham gia tố tụng, nên cần hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Đây là tình tiết mới, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong việc hủy án này.

Khi giải quyết lại, về tố tụng, cấp sơ thẩm cần chú ý: Nếu như qua thu thập chứng cứ cho thấy Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 hạch toán phụ thuộc vào Công ty Cổ phần G mà không hạch toán độc lập (như lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm), thì chỉ đưa Công ty Cổ phần G vào tham gia tố tụng mà không đưa T1 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M vào tham gia tố tụng vì Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 không có tư cách để tham gia tố tụng độc lập.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, nên chấp nhận.

[4] Về nội dung: Do hủy án để xác định lại tư cách tham gia tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung vụ án.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2.

    Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 250/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) cho T1 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M2 (đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0007573 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự Tp. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè;
  • - Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Quách Hữu Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 309/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Lan A khởi kiện Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger