Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2024/DS-PT

Ngày: 10-7-2024

V/v: “Tranh chấp lối đỉ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

- Các Thẩm phán: ông Trần Thanh Tòng; bà Võ Thị Hồng Mai.

Thư ký phiên tòa: ông Lâm Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLPT-DS, ngày 12 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 269/2024/QĐPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Đinh Thị K, sinh năm 1972, địa chỉ: Số H, Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    2. Bà Đinh Thị X, sinh năm 1955, địa chỉ: Số I, Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    3. Bà Đinh Thị M, sinh năm 1970, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở hiện nay: Ô1/46, Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1963, địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Đinh Thị P, sinh năm 1996, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    2. Anh Đinh Thanh N, sinh năm 1990, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    3. Chị Đinh Thị Kim L, sinh năm 1983, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    4. Chị Đinh Kim L1, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    5. Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1993, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    6. Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1998, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    7. Anh Đinh Văn G, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    8. Anh Đinh Chí T3, sinh năm 1981, địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    9. Bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1953, địa chỉ: C, 325, đường L, phường H, Quận A, Tp Hồ Chí Minh; có mặt.
  4. Người kháng cáo: bà Nguyễn Hồng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 04-5-2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đinh Thị K trình bày:

Nguyên cha mẹ bà là cụ Đinh Văn H (chết năm 2017) và cụ Bùi Thị Ú (chết năm 2009), các cụ có 05 người con gồm: bà Đinh Thị X, bà Đinh Thị Đ, bà Đinh Thị K, bà Đinh Thị M, ông Đinh Văn Q. Khi còn sống khoảng năm 1975 cha mẹ bà có sử dụng một phần đất ruộng diện tích khoảng 03 ha, trong đó phần đất giáp đường công cộng (đường Ẩ) cụ H có dành một phần diện tích để làm lối đi vào các thửa ruộng phía trong.

Năm 1975, cụ H chia đất cho bà X, bà Đ mỗi người khoảng 0,5 ha. Năm 1993, chia cho bà và bà M mỗi người khoảng 0,5 ha ruộng chia cho ông Q (chồng bà T) khoảng 01 ha. Phần đất của ông Q được chia nằm giáp với đường ấp C, xã C, huyện G (bao gồm luôn lối đi cũ) nên cha bà thống nhất yêu cầu ông Q phải chừa lối đi ngang 03 m dài đến cuối đất chia cho bà X. Ông Q đã cắm trụ xi măng chừa đất làm đường đi để cho 04 chị em bà sử dụng làm lối đi từ đường công cộng vào đất được cha phân chia. Tất cả những người trong gia đình bà sử dụng lối đi này từ năm 1993 đến năm 2021, bà tiến hành đặt cống thoát nước trên lối đi này thì con ông Q, bà T là anh T3 ngăn cản không cho bà, bà X, bà M sử dụng lối đi này. Ngoài lối đi này ra thì chị em bà không còn lối đi nào khác để vô đất.

Nay bà yêu cầu bà T và các con bà T, ông Q phải mở lại lối đi cũ qua đo đạc thực tế có diện tích 78,1 m², trong thửa 292, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Đồng nguyên đơn bà X trình bày: thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà K.

Đồng nguyên đơn bà M trình bày: thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà K.

Bị đơn bà Nguyễn Hồng T trình bày:

Chồng bà là ông Đinh Văn Q (chết năm 2016). Bà và ông Q có 08 người con gồm: chị Đinh Thị P, anh Đinh Thanh N, chị Đinh Thị Kim L, chị Đinh Kim L1, chị Đinh Thị T1, anh Đinh Văn T2, anh Đinh Văn G, anh Đinh Chí T3.

Phần đất nguyên đơn tranh chấp là đất của cha chồng bà là cụ Đinh Văn H cho chồng bà và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ), trước giờ đất này không có lối đi. Năm nào không nhớ, chồng bà mở lối đi để gia đình bà đi lại thì bà K, bà X, bà M, bà Đ đi nhờ.

Nay đất này bà đã chia cho con là Đinh Chí T3, nếu bà K, bà M và bà X muốn đi thì phải thanh toán tiền đất cho anh T3 là 100.000.000 đồng/m ngang. Hiện tại bà K, bà X và bà M, bà Đ không còn con đường nào khác để đi vào đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh T3, chị P, anh N, chị L, chị L1, chị T1, anh T2, anh G thống nhất ý kiến bà T, không đồng ý theo yêu cầu của bà K, bà M và bà X.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 24-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ Điều 147, 165, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 254 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị K, bà Đinh Thị M, bà Đinh Thị X và bà Đinh Thị Đ;

Buộc bà Nguyễn Hồng T, chị Đinh Thị P, anh Đinh Thanh N, chị Đinh Thị Kim L, chị Đinh Kim L1, chị Đinh Thị T1, anh Đinh Văn T2, anh Đinh Văn G, anh Đinh Chí T3 phải mở lại lối đi chung diện tích thực tế 78,1 m² một phần thửa 292, tờ bản đồ số 08 (bản đồ 2005), tương ứng với một phần thửa số 2823, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 299), đất tọa lạc ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.

- Ngày 06-5-2024, bà T kháng cáo: không đồng ý mở lối đi, nếu nguyên đơn muốn có lối đi thì thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho anh T3 100.000.000 đồng/m ngang.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà T trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bà K, bà M, bà X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Phần tranh luận

- Anh T3 trình bày: trên đất cha anh không có lối đi, cha anh chừa đất để gia đình anh đi nếu nguyên đơn muốn có lối đi thì thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho anh số tiền 100.000.000 đồng/m ngang.

- Bà T trình bày: thống nhất ý kiến anh T3, vì đất này bà đã cho anh T3.

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà; sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Bà K trình bày: đất này cha bà làm lối đi vô đất từ năm 1993, ông Q còn sống đã đồng ý chừa đất cho chị em bà đi lại, sau khi nhà nước làm đường nhựa C bà đặt cống để tiện việc đi lại thì anh T3 ngăn cản.

- Bà Đ, bà X, bà M trình bày: thống nhất ý kiến của bà K.

* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; sửa bản án sơ thẩm về án phí và điều chỉnh cách tuyên án trong phần quyết định trường hợp của bà Đinh Thị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đương sự kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: bà Đinh Thị K, bà Đinh Thị M, bà Đinh Thị X khởi kiện bà T và các con bà T, ông Q yêu cầu mở lại lối đi mà gia đình các đương sự đã sử dụng từ năm 1975 đến nay. Bà T, anh T3 cho rằng đất tranh chấp là của cụ H chia cho ông Q không có lối đi, khi ông Q còn sống có dành phần đất này làm lối đi cho gia đình bà, bà K, bà X, bà M đi nhờ, nay ông Q chết mẹ con bà thống nhất không đồng ý cho nguyên đơn đi nữa.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

[3.1] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ nhận thấy:

  • Đất bà K sử dụng tại thửa 319, tờ bản đồ số 08.
  • Đất bà M sử dụng thửa 318, tờ bản đồ số 08.
  • Đất bà X sử dụng thửa 272, tờ bản đồ số 08.
  • Đất bà Đ sử dụng thửa 245 tờ bản đồ số 08.
  • Đất ông Q (chồng bà T) sử dụng thửa 2823, tờ bản đồ số 03 (tương ứng thửa 292 tờ bản đồ số 08.
  • Phần lối đi tranh chấp diện tích 78,1 m² một phần thửa 292, tờ bản đồ số 08 (bản đồ 2005), tương ứng với một phần thửa số 2823, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 299), đất tọa lạc ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

[3.2] Về chứng cứ: cha mẹ của các đương sự cụ Đinh Văn H (chết năm 2017) và cụ Bùi Thị Ú (chết năm 2009). Khi còn sống khoảng năm 1975, cụ H có sử dụng một phần đất ruộng giáp đường công cộng (đường Á), cụ H có dành một phần diện tích đất để làm lối đi từ đường công cộng vào các thửa ruộng phía trong. Năm 1993, cụ phân chia đất cho các con trong đó chia thửa 2823 tờ bản đồ số 12 (tương ứng thửa 292, 246 tờ bản đồ số 03) cho ông Đinh Văn Q (chồng bà T) sử dụng và thỏa thuận miệng là ông Q phải dành một phần diện tích đất trong thửa 292 làm lối đi vào đất chia cho bà K, bà X, bà M (phía trong). Các đương sự đã sử dụng phần đất này làm lối đi chung từ khi cụ H chia không tranh chấp, ông Q cũng không có ý kiến phản đối. Điều đó cho thấy, ông Q lúc còn sống đã đồng ý mở lối đi qua đất ông Q được chia theo như ý kiến của cụ H là có căn cứ, phù hợp tại Điều 246 của Bộ luật Dân sự. Sau khi ông Q chết, do có mâu thuẫn giữa bà K với bà T nên bà T và các con cụ thể là anh T3 ngăn cản không cho bà K, bà X, bà M đi lại trên đất này, hành vi của bà T và anh T3 đã vi phạm nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề theo quy định tại khoản 3 Điều 248 của Bộ luật Dân sự và khoản 10 Điều 12 của Luật Đất đai. Ngoài ra, phía nguyên đơn không còn lối đi nào khác để đi từ đường công cộng vào đất sản xuất. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải mở lại lối đi cho phía nguyên đơn được sử dụng là có căn cứ.

[3.3] Bà T, anh T3 yêu cầu nguyên đơn thanh toán giá trị quyền sử dụng đất khi mở lối đi (hiện đang tranh chấp) xét thấy: đất này có nguồn gốc từ cụ H (cha các đương sự) phân chia cho các con, khi ông Q còn sống đã đồng ý cho bà K, bà X, bà M đi lại mà không có yêu cầu các nguyên đơn phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất nên cấp sơ thẩm không buộc phía nguyên đơn phải thanh toán phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 78,1 m² làm lối đi thuộc một phần thửa 292, tờ bản đồ số 08 (tương ứng với một phần thửa số 2823, tờ bản đồ số 03/299) nêu trên cho bà T, anh T3 là phù hợp tại khoản 3 Điều 254 của Bộ luật Dân sự. Bà T kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ gì khác nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng khác: bà T phải chịu số tiền 4.159.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá: bà K đã nộp số tiền 4.159.000 đồng tạm ứng thanh toán xong nên bà T phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền 4.159.000 đồng để hoàn trả lại cho bà K theo quy định tại Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà T là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí sau khi xét xử sơ thẩm (do cấp sơ thẩm không giải thích cho đương sự biết đối tượng được miễn) nhận thấy, đây là quyền của công dân được pháp luật quy định nên xét miễn án phí sơ thẩm cho bà T là có căn cứ phù hợp tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; cần sửa án sơ thẩm phần này.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: bà T được miễn.

[7] Đối với bản án sơ thẩm: bà Đinh Thị Đ không phải là nguyên đơn, không có đơn khởi kiện độc lập nhưng bản án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là không chính xác. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên cho phù hợp. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận; nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Hồng T.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 24-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các điều 246, 248 khoản 3 Điều 254 của Bộ luật Dân sự; các điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị K, bà Đinh Thị M, bà Đinh Thị X đối với bà Nguyễn Hồng T;

1.1. Buộc bà Nguyễn Hồng T, chị Đinh Thị P, anh Đinh Thanh N, chị Đinh Thị Kim L, chị Đinh Kim L1, chị Đinh Thị T1, anh Đinh Văn T2, anh Đinh Văn G, anh Đinh Chí T3 phải mở lại lối đi chung diện tích thực tế 78,1 m² một phần thửa 292, tờ bản đồ số 08 (bản đồ 2005), tương ứng với một phần thửa số 2823, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 299), đất tọa lạc ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01683 QSDĐ/412/QĐ-UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Đinh Văn Q đứng tên ngày 16-12-1999 (có sơ đồ kèm theo). Tứ cận:

  • Đông giáp đường C – Láng cát nhựa dài 03 m;
  • Tây giáp thửa số 319 dài 3,05 m;
  • Nam giáp thửa 880 dài 25,76 m;
  • Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 292 dài 26,28 m,

1.2. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ quyết định của bản án này điều chỉnh về hình thức sử dụng đất đối với diện tích 78,1 m² trong thửa 292, tờ bản đồ số 08 (bản đồ 2005), tương ứng với một phần thửa số 2823, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 299) trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01683 QSDĐ/412/QĐ-UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Đinh Văn Q đứng tên ngày 16-12-1999 theo quy định của pháp luật đất đai.

2. Về chi phí tố tụng khác: buộc bà Nguyễn Hồng T phải nộp số tiền 4.159.000 (bốn triệu một trăm năm mươi chín nghìn) đồng để hoàn trả lại cho bà Đinh Thị K.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Hồng T được miễn.

- Hoàn trả cho bà Đinh Thị K số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0025457 ngày 08-5-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Hồng T được miễn

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TPHCM;
  • - VKSNDCC tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND Gò Dầu;
  • - CCTHADS Gò Dầu;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 309/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 309/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu mở lại lối đi giữa bà Đinh thị K với bà Nguyễn Hồng Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger