|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 309/2023/HSST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Định.
Các hội thẩm nhân dân: bà Hồ Thị Lan và bà Bùi Kim Dung.
Thư ký phiên tòa: bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đặng Đức M, sinh ngày: 10/6/1997, tại TP., tỉnh Quảng Ninh;
nơi cư trú: tổ F, khu B, phường B, TP ., tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Nam P và bà Đặng Thị Mai O; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú ngày 04/11/2023 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Phương H, sinh ngày 2001.
Địa chỉ: tổ A, khu G, phường G, TP ., tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1959, có mặt.
- Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1968, vắng mặt.
- Anh Bùi Sỹ T2, sinh năm 2002, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966, có mặt.
- Bà Đặng Thị Mai O, sinh năm 1975, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12/2021, Vũ Đặng Đức M và chị Nguyễn Phương H có quan hệ tình cảm yêu nhau. Đến tháng 7/2023, giữa chị H và M nảy sinh mâu thuẫn về tình cảm, nên đến khoảng tháng 10/2023, chị H đã chủ động chia tay M, nhưng M không đồng ý. Chị H sử dụng điện thoại chặn mọi liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với M. Tối ngày 02/11/2023, khi M đang học tiếng Đ ở thành phố Hà Nội cùng với anh Bùi Sỹ T2, sinh năm 2002, ĐKHKTT: tổ dân phố I, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, M đã hỏi mượn điện thoại của anh T2 và sử dụng tài khoản Facebook của anh mang tên “Bùi Thành” 02 (hai) lần nhắn tin đến tài khoản facebook “Nguyễn Pl” (ứng dụng messenger) của chị H, với cùng nội dung “Anh sẽ cho em thấy những gì em đã làm. Anh sẽ trả lại những gì em làm với anh. Anh đã từng nói tẩm xăng đốt luôn. Sẽ không còn là lời nói nữa. Trốn cho kĩ vào nhé. Trốn đi. Hãy trốn cho kĩ vào. Đừng để a tìm thấy nhé”. Chị H nghĩ rằng M chỉ dọa, không dám làm như lời M nói, nên chị H không nhắn tin lại và cũng không kể cho ai biết. Đến khoảng 19 giờ ngày 03/11/2023, M đi từ thành phố Hà Nội về nhà ở tổ F, khu C, phường B, thành phố H. Về nhà, M bực tức nên nảy sinh ý định đi mua xăng để đe dọa đốt chị H; đến 20 giờ 41 phút cùng ngày, M đến quán bán hàng kim khí của ông Nguyễn Hữu T1 ở tổ C, khu C, phường B để tìm mua xăng. Lúc này, trong quán của ông T1 có bán lẻ xăng đựng trong các chai nhựa. M hỏi mua 01 chai xăng loại 1,5 lít thì ông T1 nói giá là 45.000 đồng. Sau đó, M chuyển tiền từ số tài khoản 05101011932362 Ngân hàng MSB của M đến số tài khoản 1023932791 của bà Nguyễn Thị H1 mở tại Ngân hàng V2 (vợ của ông T1) để trả tiền xăng. Sau đó, ông T1 đưa cho M 01 chai xăng 1,5 lít, rồi M cầm chai xăng này về cất giấu ở trước cửa nhà M, mục đích để hôm sau sẽ mang đi đe doạ đốt chị H.
Khoảng 06 giờ ngày 04/11/2023, M điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA YARIS, màu sơn xanh, biển số 14A-179.43 của mẹ M là bà Đặng Thị Mai O và mang theo 01 chai xăng đã mua từ trước (để ở ghế phụ xe ô tô) và 01 chiếc bật lửa ga, loại đánh lửa bằng điện, màu trắng, có logo hình quả táo và in chữ “HOA VIỆT” từ nhà M đi đến phía trước đầu dốc nhà chị H ở tổ A, khu G, phường G, thành phố H. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, M nhìn thấy chị H điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Furter, màu xanh biển số 14B1-706.09 đi từ nhà xuống dốc, nên M điều khiển xe ô tô đi theo sau xe chị H đến khu vực đoạn đường thuộc tổ F, khu B, phường B (đối diện với khách sạn S) thì M ép xe mô tô của chị H dừng vào lề đường. M liền xuống xe, tay phải cầm theo chai xăng, loại 1,5 lít đã chuẩn bị từ trước, vòng qua đuôi xe ô tô và đi lên vỉa hè đứng gần chị H, lúc này chị H vẫn đang ngồi trên xe mô tô. M đứng trên vỉa hè, cách chị H khoảng 40cm, tay phải M cầm chai xăng, tay trái mở nắp chai, đồng thời hai tay M cầm chai xăng đổ xăng từ phần đầu chị H (do chị H đội mũ bảo hiểm) nên phần tóc bên phải, tai bên phải và toàn bộ quần áo bên phải bị ướt đẫm xăng; vừa đổ xăng, M vừa nói: “Tao bảo mày rồi mà, tao sẽ đốt mày”, làm chị H hoảng sợ, khóc. Lúc này có một người điều khiển xe mô tô đi trên đường, thì chị H hô lớn: “anh ơi cứu em với”,
người này dừng lại và hỏi M “mày đổ cái gì đấy?”, nhưng M không nói gì và cầm chai xăng bên trong còn khoảng 20ml xăng lên xe điều khiển xe ô tô bỏ đi. Chị H cũng quay đầu xe mô tô đi về hướng C, mục đích để về nhà thay quần áo. Thấy vậy, M liền tiếp tục điều khiển xe ô tô đuổi theo sau. Khi đến đoạn đường Cái Lân, đối diện dự án D, thuộc tổ D, khu A, phường B, M lại ép được xe mô tô của chị H dừng vào lề đường. M xuống xe, tiến về phía chị H và đứng cách chị H khoảng 30cm, tay phải M cầm chiếc bật lửa giơ lên hướng về phía chị H, rồi nói: “Tao sẽ làm và không nói nữa, tao đốt mày”, thì chị H hoảng sợ, không nói gì và khóc. Sau đó, M yêu cầu chị H gọi anh L (là bạn trai mới của chị H) đến thì chị H không nói gì và kêu đau rát do bị bỏng xăng. M liền lấy 01 chai nước lọc trên xe ô tô đổ lên người chị H, rồi chị H điều khiển xe đi về nhà, còn M cũng điều khiển xe ô tô đi về nhà mình. Sau đó, M tiếp tục dùng số điện thoại 0369.075.xxx của mình nhắn tin, gọi điện để đe dọa chị H, làm chị lo sợ M sẽ giết hoặc có những hành động khác gây nguy hiểm đến tính mạng chị, nên đến khoảng 09 giờ ngày 04/11/2023, chị H đến Công an phường B trình báo. Cùng ngày 04/11/2023, chị Nguyễn Phương H giao nộp 01 áo nỉ dài tay có mũ, 01 chiếc quần vải dài màu đen, 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 chiếc quần lót nữ màu đen, 01 chiếc áo lót ngực, là quần, áo chị mặc khi bị M đổ xăng vào người.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường xảy ra sự việc tại đoạn đường thuộc tổ F, khu B, phường B, thành phố H và đoạn đường thuộc tổ D, khu A, phường B, thành phố H.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện tại camera an ninh nhà ông Nguyễn Hữu T1 có ghi lại hình ảnh vào 20 giờ 41 phút ngày 03/11/2023, M đến mua xăng, Cơ quan điều tra đã sao lưu sang 01 (một) đĩa DVD; phát hiện tại camera an ninh nhà anh Đỗ Hải P2 ở tổ F, khu B, phường B, có ghi lại hình ảnh Vũ Đặng Đức M cầm chai xăng đổ vào người chị Nguyễn Phương H ngày 04/11/2023, Cơ quan điều tra sao lưu sang 01 USB; Kiểm tra dữ liệu trong thẻ nhớ Micro SD, nhãn hiệu SanDisk Ultra màu trắng-bạc của camera hành trình trên xe ô tô 14A-179.43 do M điều khiển, phát hiện hình ảnh Vũ Đặng Đức M điều khiển xe ô tô ép xe mô tô chị Nguyễn Phương H ngày 04/11/2023.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tổ chức cho chị Nguyễn Phương H và Vũ Đặng Đức M xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc. Kết quả chị H và M đã xác định được chính xác vị trí M dùng chai xăng đổ lên người chị H và vị trí M sử dụng bật lửa đe dọa chị H phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu mà Cơ quan điều tra thu thập được.
Tại bản kết luận giám định số 8215 ngày 13/11/2023 của V3 Bộ C kết luận: trên các mẫu vật (01 chiếc áo nỉ dài tay có mũ, 01 chiếc quần vải dài màu đen, 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 chiếc quần lót nữ màu đen, 01 chiếc áo lót ngực) đều tìm thấy dấu vết của xăng; chất lỏng đựng bên trong chai nhựa trong suốt loại 1,51 là xăng, dung tích còn lại là 20ml; khi có sự tác động từ bên ngoài vào bộ phận đánh lửa của bật lửa thì 01 chiếc bật lửa vẫn còn sử dụng được để chế tạo ra lửa.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 918 ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với chị Nguyễn Phương H: Sẹo bỏng mặt trước vai phải và hạ sườn phải diện tích dưới 01% diện tích cơ thể, không ảnh hưởng đến điều tiết, thẩm mỹ 01%; Tổn thương tai phải, vành tai phải không thấy dấu vết bên ngoài, không để lại di chứng, hiện tại nghe hai tai bình thường 0%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm). Tổn thương nêu trên do bỏng hoá chất gây nên.
Tại Công văn số 68 ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y giải thích về cơ chế hình thành vết thương đối với chị Nguyễn Phương H như sau: tổn thương sẹo bỏng của chị H do hoá chất gây nên; vết thương sẹo bỏng mặt trước vai phải và hạ sườn phải được hình thành ngay sau khi tiếp xúc với hoá chất ngày 04/11/2023; xăng tiếp xúc với bề mặt da do áo, quần bị ngấm xăng một vài giờ xâm nhập vào da nơi tiếp xúc gây bỏng độ I, độ II. Vì vậy, hoàn toàn có thể gây nên vết bỏng vai phải, hạ sườn phải như đã nêu trong kết luận tổn thương cơ thể nói trên.
Ngày 04/11/2023, Vũ Đặng Đức M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đầu thú.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị hại chị Nguyễn Phương H khai: chị bị M nhắn tin đe doạ đốt nhiều lần; đến ngày 04/11/2023, M đã đổ xăng vào người chị, mang bật lửa ra doạ đốt, làm chị rất hoảng sợ; sau đó về nhà M tiếp tục nhắn tin, gọi đe doạ chị làm cho chị lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, về phần hình phạt: chị đề nghị xử lý M theo quy định pháp luật; về phần dân sự: chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Những người làm chứng có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và bị hại về nội dung vụ án.
Bà Đặng Thị Mai O khai: bà là mẹ của bị cáo M, bị cáo M đã nhờ bà đem số tiền 30.000.000đ đến nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để bồi thường thiệt hại cho bị hại và nộp tiền án phí. Nay bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại bà số tiền trên.
Tại bản Cáo trạng số 187/CT-VKSHL ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố Vũ Đặng Đức M về tội: “Đe dọa giết người” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội: “Đe dọa giết người " và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 133; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Vũ Đặng Đức M từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/11/2023.
Về vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo nỉ dài tay có mũ; 01 chiếc quần dài, màu đen đã qua sử dụng, 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 chiếc quần lót nữ, màu đen; 01 chiếc áo lót ngực; 1 chiếc bật lửa ga, loại đánh lửa điện, có vỏ bằng nhựa màu trắng, trên vỏ có logo hình quả táo khuyết in chữ “Hoa V”; 01 vỏ chai nhựa trong suốt, loại 1,51, không có nhãn mác, trong chai nhựa chứa khoảng 20ml dung dịch màu xanh;
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Galaxy (kiểu dáng S22 Ultra), màu xanh, kèm 01 sim điện thoại.
- Đối với 01 phong bì đựng 01 đĩa DVD- R ghi lại hình ảnh M mua xăng tại cửa hàng của ông Nguyễn Hữu T1 ngày 03/11/2023; 01 phong bì đựng USB ghi lại Video đổ xăng của M; 01 phong bì đựng thẻ nhớ của camera hành trình và 02 đĩa DVD được chuyển theo hồ sơ vụ án, cần tiếp tục lưu giữ trong vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: do bị hại không yêu cầu nên không đề cập.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, tại tổ F, khu B, phường B và tổ D, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong tình cảm, V1 Đặng Đức M đã có hành vi đổ xăng vào người chị Nguyễn Phương H rồi dùng bật lửa giơ lên hướng về người chị H doạ đốt, làm chị H rất hoảng sợ kêu cứu và khóc; ngoài ra chị còn bị bỏng xăng gây thương tích, tổn hại 01% (một phần trăm) sức khoẻ. Sau đó, M tiếp tục gọi điện thoại, nhắn tin đe doạ sẽ đốt chị H, vì lo sợ M sẽ giết, nên chị H đã đến Công an trình báo sự việc.
Hành vi nêu trên của Vũ Đặng Đức M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đe dọa giết người” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Do đó cần tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo ra đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tác động gia đình tự nguyện nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để bồi thường cho bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về hình phạt: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
[5] Về phần dân sự: trước khi mở phiên toà, mẹ bị cáo đã nộp 30.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, trong đó có 29.800.000đ nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại và 200.000đ nộp tiền án phí.
Tại phiên toà chị Nguyễn Phương H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chị, nên số tiền mẹ bị cáo tự nguyện nộp thay cho bị cáo để bồi thường thiệt hại cần được trả lại cho mẹ bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và dữ liệu điện tử:
- Đối với: 01 áo nỉ dài tay có mũ; 01 chiếc quần dài, màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 chiếc quần lót nữ, màu đen; 01 chiếc áo lót ngực, là tài sản của bị hại không có giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 chiếc bật lửa ga, loại đánh lửa điện, có vỏ bằng nhựa màu trắng, trên vỏ có logo hình quả táo khuyết in chữ “Hoa V”; 01 vỏ chai nhựa trong suốt, loại 1,5lít, không có nhãn mác, trong chai nhựa chứa khoảng 20ml dung dịch màu xanh, là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng cũng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Galaxy (kiểu dáng S22 Ultra), màu xanh, trong kèm 01 sim điện thoại thu giữ của M là vật dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
-Đối với 01 phong bì đựng 01 đĩa DVD- R ghi lại hình ảnh M mua xăng tại cửa hàng của ông Nguyễn Hữu T1 ngày 03/11/2023; 01 phong bì đựng USB ghi lại Video đổ xăng của M; 01 phong bì đựng thẻ nhớ của camera hình trình và 02 đĩa DVD được chuyển theo hồ sơ vụ án, cần tiếp tục lưu giữ trong vụ án.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với việc Vũ Đặng Đức M có hành vi gây thương tích cho chị Nguyễn Phương H, gây tổn hại 01% (một phần trăm) cơ thể, chị H không yêu cầu xử lý hình sự đối với M, Công an thành phố H đã xử phạt hành chính, nên không đề cập xử lý.
- Đối với Bùi Sỹ T2 có hành vi cho mượn điện thoại, nhưng không biết M dùng để nhắn tin đe doạ; bà Đặng Thị Mai O không biết M lấy xe ô tô đi mua xăng để đe doạ đốt chị H, nên không đề cập xử lý.
[8] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Đặng Đức M phạm tội: “Đe dọa giết người".
Xử phạt: bị cáo Vũ Đặng Đức M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 04/11/2023;
Về xử lý vật chứng và dữ liệu điện tử: áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 và Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo nỉ dài tay có mũ; 01 chiếc quần dài, màu đen đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 chiếc quần lót nữ, màu đen; 01 chiếc áo lót ngực; 01 chiếc bật lửa ga, loại đánh lửa điện, có vỏ bằng nhựa màu trắng, trên vỏ có logo hình quả táo khuyết in chữ “Hoa V”; 01 vỏ chai nhựa trong suốt, loại 1,5lít, không có nhãn mác, trong chai nhựa chứa khoảng 20ml dung dịch màu xanh.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Galaxy (kiểu dáng S22 Ultra), màu xanh; tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại kèm theo.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 66/BB-THA ngày 05/12/2023 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
- Tiếp tục lưu giữ trong vụ án: 01 phong bì đựng 01 đĩa DVD- R ghi lại hình ảnh M mua xăng tại cửa hàng của ông Nguyễn Hữu T1 ngày 03/11/2023; 01 phong bì đựng USB ghi lại Video đổ xăng của M; 01 phong bì đựng thẻ nhớ của camera hình trình và 02 đĩa DVD.
- Trả lại cho mẹ bị cáo là bà B Đặng Thị Mai O (địa chỉ: tổ F, khu C, phường B, TP ., tỉnh Quảng Ninh) số tiền 29.800.000đ (hai mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng).
(Tình trạng theo Biên lai thu tiền số 0000401 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Đặng Đức M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai thu tiền số 0000401 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
Về quyền kháng cáo: áp dụng: Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Định |
Bản án số 309/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (tội đe dọa giết người)
- Số bản án: 309/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đe dọa giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Vũ Đặng Đức Mạnh phạm tội: “Đe dọa giết người".
