|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 308/2024/HS-ST Ngày 30 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Tùng Mận
- Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 289/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Cù Văn M; Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 26/3/1986;Tại: Tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: 1 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Cù Văn Đ (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1952, nghề nghiệp: Nội trợ, trú tại: 1 Đ, phường T, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có vợ là: Trần Thị Tuyết N, sinh năm: 1993, nghề nghiệp: Kinh doanh; có 01 con, sinh năm: 2005, cùng trú tại: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án 04; Tiền sự: Không.
+ Ngày 12/9/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ, về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
+ Ngày 26/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 17/11/2014, chấp hành xong hình phạt tù.
+ Ngày 24/10/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 03 năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 09/02/2019, chấp hành xong hình phạt tù.
+ Ngày 30/12/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội Cố ý gây thương tích. Hiện, chưa chấp hành án.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam, kể từ ngày 26/3/2024 cho đến nay. Có mặt
2. Họ và tên: Cao Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 03/01/1986; Tại: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Cao Hồng T1, sinh năm: 1960, nghề nghiệp: Dược sĩ; Con bà: Bùi Thị H, sinh năm: 1964, nghề nghiệp: Dược sĩ, hiện đều trú tại: 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có vợ là Trần Thị Kim N1, sinh năm: 1990, nghề nghiệp: Kinh doanh; có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2011, con nhỏ nhất sinh năm: 2016, đều trú tại: 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án (Ngày 20/11/2020, bị Tòa án nhân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 09 tháng tù, về tội Gây rối trật tự công cộng. Hiện đang chấp hành án).
Nhân thân:
+ Ngày 25/7/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, về tội Đánh bạc.
+ Ngày 05/11/2010, bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
+ Ngày 22/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù, về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 28/7/2012, chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt
3. Họ và tên: Trần Ngọc Thiên P; Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/01/1987; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 02/12. Con ông: Trần Ngọc Q (Đã chết); Con bà: Vũ Thị Yến N2, sinh năm: 1960, nghề nghiệp: Nội trợ, trú tại: Tổ dân phố G, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có vợ là: Vũ Thị Đ1, sinh năm: 1992, nghề nghiệp: Nội trợ; có có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2017, con nhỏ nhất sinh năm: 2022, đều trú tại: C P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 11/3/2022, bị Tòa án nhân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội Gây rối trật tự công cộng. Hiện đang chấp hành án.
Nhân thân: Ngày 26/01/2011, bị Công an phường T, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi Đánh nhau, hình thức: Phạt tiền, số tiền: 750.000 đồng. Ngày 28/01/2021, đã nộp.
Bị cáo chấp hành án tại Trạm giam X, Bộ C2 và đang được trích xuất về Nhà Tạm giữ Công an thành phố B để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1990;
- Trịnh Thị Ngọc B, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: A, Block A, Ấp C, B, B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/11/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Cao Minh T 02 năm 09 tháng tù, về tội Gây rối trật tự công cộng; Ngày 30/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Cù Văn M 02 năm 03 tháng tù, về tội Cố ý gây thương tích; Ngày 11/3/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Trần Ngọc Thiên P 02 năm 06 tháng tù, về tội Gây rối trật tự công cộng.
Ngày 15/12/2020, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định thi hành án hình phạt tù số 657 đối với Cao Minh T; Ngày 15/01/2021, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định thi hành án hình phạt tù số 42 đối với Cù Văn M và ngày 04/4/2022, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định thi hành án hình phạt tù số 143 đối với Trần Ngọc Thiên P. Sau đó, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã cho Cao Minh T, Cù Văn M, Trần Ngọc Thiên P hoãn chấp hành án hình phạt tù.
Đến khoảng tháng 3/2023, do muốn tiếp tục được Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cho hoãn chấp hành án hình phạt tù nên Cao Minh T, Cù Văn M đã liên hệ với 02 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để thoả thuận làm khống hồ sơ bệnh án, thể hiện nội dung T và M bị bệnh nặng rồi cung cấp cho Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột để được hoãn chấp hành án hình phạt tù. Cao Minh T và Cù Văn M tự liên hệ, gặp gỡ riêng rồi thoả thuận, thống nhất về chi phí làm khống hồ sơ bệnh án và cung cấp thông tin cá nhân của T, M cho những người nam giới trên. Đến khoảng giữa tháng 3/2023, Cao Minh T nhận được tài liệu là Tổng kết hồ sơ bệnh án số 7014112230304080 ngày 12/03/2023 của Bệnh viện Bình Dân thành phố H (Bản gốc), họ tên bệnh nhân: Cao Minh T, kết luận: “Suy thận giai đoạn cuối”, Trưởng khoa điều trị: BS.CKI Lê Thị Ngọc D đã ký và Phó giám đốc Bệnh viện B: Nguyễn Phúc Cẩm H1 đã ký tên, đóng dấu mộc tròn, màu đỏ của Bệnh viện B. Sau đó, T giao số tiền 30.000.000 đồng (chi phí làm hồ sơ) cho người nam giới, rồi nộp tài liệu trên cùng Đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù (do T là người làm đơn, ký tên xác nhận, với lý do bị “Suy thận giai đoạn cuối”) cho Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Ngày 17/7/2023, Tòa án nhân đân thành phố B ra Quyết định hoãn chấp hành án hình phạt tù số 42 đối với Cao Minh T, vì lý do bị suy thận giai đoạn cuối, trong thời hạn 06 tháng.
Còn Cù Văn M nhận được tài liệu là Biên bản kết luận giám định số 6735/GĐPY ngày 02/03/2023 của Bệnh viện Ung bướu thành phố H (Bản gốc), họ tên bệnh nhân: Cù Văn M, kết luận: “Ung thư phổi giai đoạn cuối”, Trưởng phòng pháp y: BS Nguyễn Văn M1 đã ký và Phó giám đốc Bệnh viện U: BS Phạm Xuân D1 đã ký tên, đóng dấu mộc tròn, màu đỏ của Bệnh viện U. Sau đó, M1 giao số tiền 20.000.000 đồng (chi phí làm hồ sơ) cho người nam giới, rồi nộp tài liệu trên cùng Đơn xin hoãn chấp hành án hình phạt tù, người làm đơn: Đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù do M1 là người làm đơn, ký tên xác nhận, với lý do bị “Ung thư phổi giai đoạn cuối” cho Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Ngày 08/5/2023, Tòa án nhân
đân thành phố B Quyết định hoãn chấp hành án hình phạt tù số 27 đối với M1, vì lý do Ung thư phổi giai cuối, trong thời hạn 06 tháng.
Đối với Trần Ngọc Thiên P khai nhận: Ngày 08/3/2023, Trần Ngọc T2 P đến Bệnh viện Ung bướu thành phố H khám bệnh để có hồ sơ bệnh án cung cấp cho Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhằm xin hoãn chấp hành án hình phạt tù. Lúc này, P gặp 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ khám dịch vụ và P nói với người phụ nữ cần có kết quả khám thể hiện bị bệnh hiểm nghèo để xin hoãn chấp hành án hình phạt tù, sau khi thỏa thuận thống nhất chi phí thì P được người phụ nữ trên dẫn đi khám tổng quát. Đến ngày 10/3/2023, P quay lại Bệnh viện Ung bướu thành phố H nhận được 01 bịch ni lông đựng hồ sơ bệnh án là: Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/03/2023 của Bệnh viện Ung bướu thành phố H, họ tên bệnh nhân: Trần Ngọc Thiên P, rồi P giao số tiền 15.000.000 đồng (chi phí làm hồ sơ) cho người phụ nữ. Khoảng đầu tháng 5/2023, Phong cầm tập tài liệu trên đến tiệm P1, trên đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nhờ 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch, là nhân viên của tiệm Photocopy) soạn Đơn xin hoãn chấp hành án hình phạt tù và cầm hồ sơ bệnh án của P đi công chứng, sau đó, P quay lại lấy Đơn xin hoãn chấp hành án hình phạt tù cùng 01 bịch nilong đựng tài liệu trên và trả cho nam thanh niên trên số tiền 300.000 đồng. Sau đó, P đến Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nộp hồ sơ. Đến ngày 25/5/2023, P đến Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột lấy lại Đơn xin hoãn chấp hành án hình phạt tù để đi xác nhận tại Công an phường E và nộp lại cho Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. P khai nhận do đã từng làm hồ sơ xin hoãn chấp hành án hình phạt tù nên P tìm hiểu và biết được để tiếp tục được hoãn chấp hành án hình phạt tù thì nội dung bệnh án là phải bị bệnh nặng và P đã thoả thuận với người phụ nữ gặp tại Bệnh viện Ung bướu thành phố H làm hồ sơ bệnh án bị bệnh hiểm nghèo cho P. Thực tế, P không bị bệnh nào thuộc diện để được tiếp tục hoãn chấp hành án hình phạt tù, do đó, khi nhận hồ sơ, P không mở ra xem, không đọc nội dung trong hồ sơ bệnh án. Ngày 15/6/2023, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định hoãn chấp hành án hình phạt tù số 36 đối với Trần Ngọc Thiên P, vì lý do Ung thư gan giai cuối, trong thời hạn 12 tháng
Tại Biên bản làm việc ngày 20/12/2023, Bệnh viện Bình dân thành phố H cung cấp:
Đối với trường hợp Cao Minh T, sinh năm: 1986, trú tại: 5 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có đăng ký khám tại Bệnh viện B ngày 08/3/2023, nhưng không
tham gia khám hay điều trị bệnh nên không có chuẩn đoán bệnh theo tổng kết bệnh án đính kèm trong công văn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Bệnh viện không cung cấp hồ sơ bệnh án, tài liệu gì liên quan đến tên bệnh nhân: Cao Minh T3 cho ông Cao Minh T. Phôi giấy “Tổng kết hồ sơ bệnh án” của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không phải do Bệnh viện B cung cấp cho ông T
Tại Công văn số ngày 333/BVUB-KHTH ngày 16/01/2024, Bệnh viện Ung bướu thành phố H cung cấp:
Bệnh viện Ung bướu không ghi nhận 02 trường hợp sau đến khám, chữa bệnh tại bệnh viện, cụ thể: Cù Văn M (sinh năm: 1986; trú tại: G N, phường T, thành phố B) va Trần Ngọc Thiên P (sinh năm: 1987; trú tại: Tổ dân phố G, phường E, thành phố B). Bệnh viện U hiện không có chức năng và bộ phận giám định y khoa, do đó, Bệnh viện không ban hành Biên bản kết luận giám định số 6735/GĐPY ngày 02/3/2023 và Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/3/2023. Hiện tại, TS.BS. Phạm Xuân D1 đang công tác tại Bệnh viện U và giữ chức vụ Giám đốc Bệnh viện U từ năm 2017 đến nay. Còn người có tên: Nguyễn Văn M1 không có công tác và tham gia làm việc tại Bệnh viện U
Tại Kết luận giám định số 206 ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Không tiến hành giám định so sánh chữ ký mang tên Lê Thị Ngọc D trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang tên Lê Thị Ngọc D trên tài liệu mẫu so sánh do có dạng khác nhau. Chữ ký mang tên Nguyễn Phúc Cẩm H1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang tên Nguyễn Phúc Cẩm H1 trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.
Hình dấu tên có nội dung “BS.CKI. Lê Thị Ngọc D”, “NGUYỄN PHÚC CẦM H1” và hình đấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN BÌNH DÂN” so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh là không phải do cùng một con dấu đóng ra (Bút lục: 27).
Tại Kết luận giám định số 215 ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Không tiến hành giám định chữ ký, hình dấu trên tài liệu Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/03/2023 tên Trần Ngọc Thiên P của Bệnh viện Ung bướu thành phố H (Bản sao y công chứng), do tài liệu cần giám định là bản sao.
Đối với Biên bản kết luận giám định số 6735/GĐPY ngày 02/03/2023 tên Cù Văn M của Bệnh viện Ung bướu thành phố H (Bản gốc):
+ Chữ ký mang tên Phạm Xuân D1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang tên Phạm Xuân D1 trên tài liệu mẫu so sánh là không phải cùng một người ký ra.
+ Hình dấu tên có nội dung “BS Phạm Xuân D1” và hình đấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN UNG BƯỚU Y TẾ PHỐ HỒ CHÍ MINH” so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh là không phải do cùng một con dấu đóng ra (Bút lục: 21).
Tại Kết luận giám định số 1118 ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Chữ ký mang tên Nguyễn Thị Kim L trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký mang tên Nguyễn Thị Kim L trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2, do cùng một người ký ra. Hình dấu có nội dung “Nguyễn Thị Kim L” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với hình dấu có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2, do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu tròn có nội dung “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN THỊ KIM LOAN ★ TP BUÔN MA THUỘT - T.ĐẮK LẮK S.Đ.K.H.Đ: 23- C.T.H.D” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2, do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu có nội dung “CÔNG CHỨNG VIÊN” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu có nội dung “CHỨNG THỰC BẢN SAO ĐÚNG VỚI BẢN CHÍNH Số Chứng thực..... Quyển số: 01/2023-SCT/BS” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1 do cùng một con dấu đóng ra.
Làm việc với Công chứng viên Nguyễn Thị Kim L (sinh năm: 1990; trú tại: A, Block A, Ấp C, B, B, thành phố Hồ Chí Minh): Chị L xác nhận tài liệu Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/3/2023, tên Trần Ngọc Thiên P của Bệnh viện Ung bướu thành phố H (Bản sao y công chứng) được công chứng tại Văn phòng C3. Tại thời điểm công chứng, do công chứng nhiều tài liệu trong ngày nên chị L không xác định được Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/3/2023 của Bệnh viện Ung bướu thành phố H, tên Trần Ngọc Thiên P có phải là tài liệu giả hay không và chị L không rõ ai là người mang tài liệu trên đi công chứng; ngoài ra, chị L cũng không có mối quan hệ gì đối với Trần Ngọc Thiên P
Làm việc với chị Trịnh Thị Ngọc B (sinh năm: 1990; trú tại: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là Nhân viên văn thư của Văn phòng C3): Chị B xác định Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/03/2023 của Bệnh
viện U, TP Hồ Chí Minh, mang tên: Trần Ngọc Thiên P được công chứng vào ngày 25/5/2023 tại Văn phòng C3, tuy nhiên, do sai sót trong quá trình nhập máy tính nên chị B đã nhập thông tin người mang tài liệu trên công chứng vào sổ tên là Lê Thị H2 (sinh năm: 1997; trú tại: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk); hiện chị B không nhớ ai là người mang tài liệu trên đi công chứng.
Tại bản cáo trạng số: 302/CT-VKS-HS ngày ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo Cù Văn M, về tội: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Cao Minh T, Trần Ngọc Thiên P, về tội: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức, theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 302/CT-VKS-HS ngày ngày 16 tháng 9 năm 2024 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Cù Văn M, Cao Minh T và Trần Ngọc Thiên P phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức,”
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cù Văn M mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 338/2020/HSPT ngày 30/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 04 năm 03 tháng tù đến 04 năm 09 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cao Minh T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 09 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 314/2020/HS-PT ngày 30/11/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm h khoản 1 điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Thiên P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 58/2020/HSPT ngày 11/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm tù đến 03 năm 03 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các tài liệu bị tạm giữ là hồ sơ bệnh án, đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù và các phiếu nhận đơn, là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Cao Minh T, Cù Văn M và bị cáo Trần Ngọc Thiên P thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định về quản lý hành chính nên vào khoảng tháng 3/2023, các bị cáo Cao Minh T, Cù Văn M và bị cáo Trần Ngọc Thiên P đã có hành vi đặt làm bệnh án không phải tài liệu do Bệnh viện Ung bướu thành phố H và Bệnh viện Bình Dân thành phố H cung cấp, phát hành; Cao Minh T, Cù Văn M và Trần Ngọc Thiên P nhận thức được bản thân không bị bệnh nặng nhưng cố ý làm khống hồ sơ bệnh án: Tổng kết hồ sơ bệnh án số 7014112230304080 ngày 12/3/2023, tên Cao Minh T của Bệnh viện Bình Dân thành phố H; Biên bản kết luận giám định số 6735/GĐPY ngày 02/03/2023, tên Cù Văn M của Bệnh viện Ung bướu thành phố H; Biên bản kết luận giám định số 6583/GĐPY ngày 07/03/2023, tên Trần Ngọc Thiên P của Bệnh viện Ung bướu thành phố H, là tài liệu giả, rồi sử dụng cung cấp cho Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột để được hoãn chấp hành hình phạt tù.
Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Cù Văn M, Cao Minh T, và bị cáo Trần Ngọc Thiên P đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức,” theo Điều 341 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét tính chất hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Cơ quan Nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ muốn được hoãn chấp hành án phạt tù, nên các bị cáo đã đặt làm giả các bệnh án và kết luận bệnh hiểm nghèo nhằm mục đích hoãn thi hành án do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Cù Văn M đã vi phạm tình tiết định khung tăng nặng, tái phạm nguy hiểm do vậy xét xử tại điểm e khoản 2 Điều 341 BLHS.
Hành vi của bị cáo Cao Minh T, và bị cáo Trần Ngọc Thiên P không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng do vậy xét xử tại khoản 1 Điều 341 BLHS.
Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
...
e. Tái phạm nguy hiểm.”
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Minh T, và bị cáo Trần Ngọc Thiên P phạm tội khi chưa được xoá án tích là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
Các bị cáo có nhân thân xấu đã có tiền án nhưng chưa được xoá án tích. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho các bị cáo. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Bị cáo Cao Minh T, và bị cáo Trần Ngọc Thiên P phạm tội khi chưa được xoá án tích là tái phạm, do vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS. Các bị cáo chưa chấp hành xong bản án trước nên cần áp dụng điều 56 BLHS tổng hợp bản án là phù hợp.
Với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Đối với các tài liệu bị tạm giữ là hồ sơ bệnh án, đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù và các phiếu nhận đơn, là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong vụ án để phục vụ công tác xét xử.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cù Văn M, Cao Minh T và bị cáo Trần Ngọc Thiên P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
+ Áp dụng điểm e, khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Cù Văn M 02 năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 338/2020/HSPT ngày 30/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 04 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024 (được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 24/12/2019 đến ngày 02/01/2020)
+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Cao Minh T 07 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 09 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 314/2020/HS-PT ngày 30/11/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024 (được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 05/4/2019 đến ngày 14/4/2019)
Xử phạt: Trần Ngọc Thiên P 07 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 58/2020/HSPT ngày 11/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm 01 tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024 (được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 29/6/2020 đến ngày 25/11/2020)
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Cù Văn M, Cao Minh T và bị cáo Trần Ngọc Thiên P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Kiên |
Bản án số 308/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 308/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội làm giả tài liệu
