|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 308/2023/HSPT Ngày: 25/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Minh
Bà Đinh Thị Kiều Lương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 200/2023/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng Quốc B, sinh năm 2000, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị Thanh P, sinh năm 1973; vợ, con: Không; Tiền sự: Ngày 01/6/2021 bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau; Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 31/5/2022 đến nay. (Có mặt).
- Người bị hại:
- Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Anh Lê Phương D, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Hoàng Duy A, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, U, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đình B1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/3/2022 Nguyễn Hoàng Quốc B thuê xe ô tô biển số 62A 233.61 của anh Nguyễn Trọng N1 để sử dụng. Ngày 11/3/2022 B hỏi mượn Nguyễn Hoàng Duy A xe mô tô biển số 59C 694.91 để làm phương tiện đi lại. Do cần tiền tiêu xài, B nảy sinh ý định bán xe mô tô biển số 59C-694.91 và xe ô tô biển số 62A-233.61. Thực hiện ý định, B nhắn tin qua tài khoản Facebook Hoàng Lê n làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C-694.91 mang tên Lư Nguyễn Hiệp T, biên nhận thế chấp xe ô tô biển số 62A-233.61 giữa Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Hoàng Quốc B, Hợp đồng ủy quyền giữa Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Hoàng Quốc B có nội dung B có quyền bán, tặng cho xe ô tô biển số 62A-233.61.
Ngày 12/3/2022 B mang xe mô tô biển số 59C-694.91 đến bán cho anh Lê Phương D, kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 022518 được làm giả với giá 20.000.000 đồng, khi bán B cho rằng xe mua chưa sang tên chủ sở hữu. Ngày 14/3/2022 B điều khiển xe ô tô biển số 62A-233.61 đến bán cho anh Lê Phương D với giá 80.000.000 đồng kèm điều kiện nói dối với anh D phải trả số tiền 280.000.000 đồng để tất toán tiền thế chấp xe cho ngân hàng, anh D đồng ý. Tiếp đó, B mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 62A-233.61, biên nhận thế chấp xe ô tô biển số 62A-233.61, Hợp đồng ủy quyền được làm giả có xác nhận của Công chứng viên thuộc văn phòng C đưa cho anh D.
Sau khi biết những giấy tờ do Nguyễn Hoàng Quốc B đưa là giả, anh D trình báo cơ quan Công an. Qua đó vụ án được điều tra làm rõ.
Trị giá tài sản thiệt hại: Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định: 01 xe ô tô biển số 62A-233.61, nhãn hiệu Kia, loại xe Cerato 05 chỗ ngồi, sản xuất năm 2021, màu trắng, giấy đăng ký xe số 62003300 cấp ngày 07/5/2021, giấy chứng nhận kiểm định số DA 0724486 ngày 11/02.2022, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị còn lại của tài sản trên (đã trích khấu hao) là 433.220.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định: 01 xe mô tô biển số59C2-694.91, nhãn hiệu YAMAHA, loai xe Exciter, đã qua sử dụng. Kết luận về trị giá của tài sản trên (đã trích khấu hao ) là 28.063.000 đồng
Ngày 09/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định những giấy tờ, tài liệu được làm giả nêu trên. Kết luận giám định số 3407/KL-KTHS ngày 19/7/2022 của V Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022518 đứng tên Lư Nguyễn Hiệp T là giả”.
Kết luận giám định số 3408/KL-KTHS ngày 13/7/2022 của V Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
- Hình dầu tròn nội dung "Văn phòng C.Đ.K.H.Ð 41020042 D.N.T.N Q Thủ Đức TP Hồ Chí Minh” trên các tài liệu ký hiệu A1, A2 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu ký hiệu M2 là không được đóng ra từ cùng một con dấu.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Trọng N1, Phạm Hùng N2 trên các tài liệu ký hiệu A1, A2 so với chữ ký dùng làm mẫu so sánh tương ứng đứng tên Nguyễn Trọng N1, Phạm Hùng N2 trên các tài liệu ký hiệu M1, M2, M3 là có phải do cùng một người ký ra hay không.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, d khoản 2 Điều 341, khoản 3 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc Bảo p các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 05 (năm) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/5/2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/5/2023, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: về tội danh, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo B là có căn cứ. Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định. Cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp được một số tài liệu chứng cứ mới, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị cáo: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể, từ ngày 03/3/2022 đến ngày 23/3/2022 tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Hoàng Quốc B đã có hành vi thuê xe ô tô biển số 62A-233.61, trị giá 433.220.000₫ của anh Nguyễn Trọng N1 và mượn xe mô tô biển số 59C2-694.91, trị giá 28.063.000₫ của anh Nguyễn Hoàng Duy A rồi làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59C-694.91 mang tên Lư Nguyễn Hiệp T, biên nhận thế chấp xe ô tô biển số 62A-233.61 giữa Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Hoàng Quốc B, Hợp đồng ủy quyền giữa Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Hoàng Quốc B có nội dung B có quyền bán, tặng cho xe ô tô biển số 62A-233.61. Tiếp đó, Nguyễn Hoàng Quốc B mang xe ô tô và xe mô tô trên đến bán cho anh Lê Phương D tổng trị giá 100.000.000₫.
Bị cáo đã có hành vi gian dối sử dụng giấy tờ giả để nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Lê Phương D, lợi dụng sự tin tưởng để mượn xe của anh Nguyễn Hoàng Duy A và thuê xe của anh Nguyễn Trọng N1 sau đó đem đi cầm, đi bán cho anh D. Nên tội danh và khung hình phạt mà cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, được người bị hại có đơn bãi nại; tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại D cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là chưa đúng vì bị cáo phạm nhiều tội chứ không phải phạm tội nhiều lần. Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định hình phạt đối với mỗi tội và tổng hợp hình phạt theo quy định Điều 55 Bộ luật hình sự, bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 3 tội nên không thể áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp bổ sung tài liệu: bị cáo có con nhỏ (3 tuổi), mẹ bị bệnh hiểm nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 355, 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, d khoản 2 Điều 341, khoản 3 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2.1 Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc Bảo p các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/5/2022.
2.3 Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Trang |
Bản án số 308/2023/HSPT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 308/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa 1 phần bản án sơ thẩm do có tình tiết mới
