Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2024/HS-PT

Ngày: 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
Ông Trần Phước Hội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 269/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị T (tên gọi khác: không), sinh năm: 1991, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Chổ ở: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1968 và con bà Lê Thị T3, sinh năm: 1964; Anh chị em: có 04 người, bị cáo là con thứ 03; chồng: Nguyễn Văn V, sinh năm 1977, có 02 con, sinh năm 2015 và 2017; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam: không, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn V (tên gọi khác: không), sinh năm: 1977; tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T4 (chết) và con bà Huỳnh Thị M; Anh chị em: có 10 người, bị cáo là con thứ 4; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1991, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền sự, tiền án: không; tạm giữ, tạm giam: không, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Trịnh Vũ T1 (tên gọi khác: Tý L), sinh năm: 1985, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Bá T5, sinh năm: 1962 và con bà V1 Trần Thị Hương B, sinh năm: 1961; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Huỳnh Thị Ngọc T6, sinh năm: 2004, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền sự: không, tiền án: không; Nhân thân: 13/5/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/2005/HS-PT, chấp hành xong ngày 22/3/2006, đã xóa án tích; Ngày 04/12/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 428/2014/HS-PT, chấp hành xong, đã được xóa án tích; Ngày 24/6/2020 bị tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 68/2020/HS-PT, chấp hành xong ngày 20/01/2021, đã được xóa án tích; tạm giữ, tạm giam: không, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị cáo Trần Thanh T7 có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T và chồng là Nguyễn Văn V chuyên hành nghề mua bán thịt chó. Để có C bán T và V đặt hàng với Trịnh Vũ T1 và Trần Thanh T7 đi bắn trộm về bán cho T và V với giá là 30.000 đồng đến 35.000 đồng trên 01kg, cụ thể:

Vào khoảng 17 giờ ngày 03/3/2024 T điện thoại cho T1 đặt mua 50 kg đến 100 kg chó, T1 nhận lời rồi điện thoại cho T7 biết và hẹn gặp nhau tại nhà Nguyễn Minh N ở cụm D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, sau đó T1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade không nhớ biển số, đồng thời mang theo bộ dụng cụ tự chế dùng để bắn chó gồm 01 cây súng bắn chỉa và 02 cây chỉa 02 mũi bằng kim loại, 01 đoạn dây điện, 02 bộ kích điện tự chế, 01 bình Ắc quy loại 12V9Ah, khi đến điểm hẹn T1 gửi xe lại nhà N.

Về phía T7 lúc khoảng 22 giờ đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 66B1-662.67, mang theo túi vải màu đen, bên trong có một bình xịt hơi cai và nhiều bọc ny long màu đen dùng để chứa số chó khi bắn được, T7 chạy xe đến nhà N rước T1 ngồi sau cầm súng chỉa chạy trên Quốc lộ C đoạn từ huyện T lên thành phố H để T1 dùng súng chỉa bắn trộm được 11 con chó được đựng trong các bọc ny long màu đen đem theo, để trước ba ga xe, nhận thấy đã đủ số lượng nên T7 chở T1 chạy về nhà T để giao cho V, lúc đó là 01 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, V là người ra mở cửa để nhận chó thì bị lực lượng Công an đến bắt với đầy đủ tang vật chứng, khi đó T1 bỏ chạy thoát, đến ngày 05/3/2024 T1 đến Công an huyện đầu thú khai nhận như đã nêu trên.

Theo bản kết luận định giá số 14/KL-HĐ ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 11 con Chó có tổng trọng lượng là 136 kg giá 31.600 đồng/01kg. Tổng giá trị tài sản được định giá là 4.298.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra thể hiện Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V, Trịnh Vũ T1, Trần Thanh T7 còn thừa nhận trong khoảng thời gian 19/2/2024 đến khi bị bắt quả tang (03/3/2024) theo đặt hàng của T và V thì T1 và T7 đã 04-05 lần đi bắn chó về giao cho T và V, mỗi lần khoảng 50kg, số tiền thu lợi do bán chó là 10.000.000 đồng, số tiền này T1 và T7 chia đều mỗi bị cáo là 5.000.000 đồng. T và V thì mua chó của T1 và T7 bán lại cho khách hàng, thu lợi khoảng 1.500.000 đồng.

Tuy đã bị cơ quan chức năng bắt quả tang và vụ việc đang được điều tra, nhưng vào lúc 16 giờ ngày 07/3/2024 Nguyễn Văn V vẫn tiếp tục tự mình điện thoại cho đối tượng tên B (không rõ họ tên địa chỉ) đặt mua 100kg chó, B đồng ý và khoảng 01 giờ ngày 08/3/2024 thì B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter (không rõ biển số) đến nhà V giao cho V 02 bọc chó chết số lượng là 09 con, V nhận và trả tiền cho B 3.500.000 đồng. Sau đó V thuê Nguyễn Văn C1, Đoàn Văn C2, Nguyễn Văn Y, cư trú tại ấp B, xã B mổ thịt chó, quá trình những người này đang thực hiện làm chó thì bị lực lượng công an đến kiểm tra lập biên bản thu giữ 09 con chó, có trọng lượng là 123kg.

Theo bản kết luận định giá số 26/KL-HĐ ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 09 con Chó có tổng trọng lượng là 123 kg giá 31.600 đồng/01kg. Tổng giá trị tài sản được định giá là 3.887.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Trịnh Vũ T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Trần Thanh T7 09 (chín) tháng tù cùng về tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo luật định.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo, các bị cáo Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo, các bị cáo Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt nhưng các bị cáo không cung cấp được tình tiết gì mới. Tại phiên toà, các bị cáo nêu lý do xin được hưởng án treo, xin giảm nhẹ hình phạt vì phải nuôi con còn nhỏ. Tuy nhiên, án sơ thẩm đã có cân nhắc xem xét và áp dụng mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị T xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo; các bị cáo Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 xin Hội đồng xét xử được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 19/2/2024 đến ngày 02/3/2024, T1 và T7 đã 06 lần đi bắn trộm Chó của người dân trên địa bàn huyện T và thành phố H sau đó giao cho Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn V làm thịt bán cho khách hàng. Đồng thời theo sự đặt hàng của T và V, đêm 03/3/2024 T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 66B1-662.67 đến nhà N để chở T1 đi trên Quốc lộ C đoạn từ huyện T đến thành phố H bắn trộm 11 con chó rồi chạy về nhà T ở xã B giao cho V (chồng T) thì bị bắt quả tang với đầy đủ tang vật chứng. Theo định giá số lượng chó mà các bị cáo chiếm đoạt là 136kg, có giá trị là 4.298.000 đồng.

    Ngoài ra, vào ngày 07/3/2024, một mình Nguyễn Văn V đã đặt mua chó của một người lạ tên B chuyên bắn chó bán. Lúc 01 giờ ngày 08/3/2024, B đã giao cho V nhận 02 bọc chó đã chết, số lượng là 09 con, rồi trả cho B 3.500.000 đồng. Sau đó V thuê Nguyễn Văn C1, Đoàn Văn C2, Nguyễn Văn Y làm thịt. Quá trình những người này đang thực hiện việc làm thịt chó tại nhà V thì bị lực lượng công an đến kiểm tra lập biên bản thu giữ 09 con chó, có trọng lượng là 123kg, có giá trị là 3.887.000 đồng.

  2. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên các bị cáo T, V2 và T1 đã có hành vi cùng nhau thực hiện tội phạm như đã nêu trên. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là chó với số lượng 136 kg, có giá trị là 4.298.000 đồng. Riêng bị cáo V, tuy bị cáo đã bị cơ quan chức năng bắt quả tang trước đó và vụ việc đang trong giai đoạn điều tra, bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm vào ngày 07/3/2024 với trọng lượng chó chiếm đoạt là 123kg, có giá trị là 3.887.000 đồng. Các bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

  3. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo, các bị cáo Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 cùng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng các bị cáo không cung cấp được tình tiết gì mới. Tại phiên toà, các bị cáo nêu lý do xin được hưởng án treo, xin giảm nhẹ hình phạt vì phải nuôi con còn nhỏ. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho từng bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị T và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1.

  4. Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

  5. Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn V và Trịnh Vũ T1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn V, Trịnh Vũ T1 và kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị T và Trịnh Vũ T1.
  2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị T và Trịnh Vũ T1 cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Trịnh Vũ T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị T và Trịnh Vũ T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - TAND huyện Thanh Bình (07 bản);
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - CQCSĐT CA huyện Thanh Bình;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQTHAHS CA huyện Thanh Bình;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 308/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 308/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger