TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 308/2024/HS-ST Ngày: 12/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Minh Hoàng và bà Nguyễn Thị Hồng Bạch
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Trường Vũ A - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 354/2024/TLST-HS ngày 21/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 433/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Minh H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994, tại: Bạc Liêu; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: H T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Phạm Văn T, sinh năm: 1971; Họ và tên mẹ: Lê Thị Bạch K, sinh năm: 1971; Vợ: Thạch Thị Sa R, sinh năm: 1999; Bị cáo có 01 con sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay (Bị cáo có mặt);
2. Đỗ Ngọc T1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1992, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 8 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Đỗ Văn M, sinh năm: 1955; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1955; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay (Bị cáo có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, tại trước số D T, phường A, quận T, tổ C Công an T, Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm tra phát hiện đối tượng Đỗ Ngọc T1 ngồi sau xe công nghệ B có biểu hiện nghi vấn. Kiểm tra điện thoại di động của T1 có lưu trữ một số thông tin về việc ghi số đề nên đưa về Công an phường A1, quận T giải quyết. Ngày 30/01/2024, Công an quận T chuyển giao hồ sơ tin báo đến Công an quận B giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng đầu tháng 12/2023, Phạm Minh H có liên hệ qua số điện thoại 0977.687.xxx với đối tượng tên L (không rõ lai lịch) quen ngoài xã hội, thầu số đề, thỏa thuận để H nhận ghi số đề và giao lại cho L hưởng hoa hồng từ 2-3% trên số tiền ghi đề. H có liên hệ với Đỗ Ngọc T1 là người làm chung công ty TNHH N1, địa chỉ 5 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để ghi số đề. T1 có rủ những người làm chung công ty là Huỳnh Thị N, Nguyễn Thị T2 và người thân trong gia đình là Nguyễn Thanh L1, Đỗ Phúc G đề, sau đó chuyển cho H, H cho lại T1 từ 20.000 đồng – 30.000 đồng. Việc ghi đề, chuyển giao số đề, tiền ghi đề giữa H và T1 thực hiện trên điện thoại di động và thanh toán trực tiếp với nhau.
Cách thức đánh đề, thắng thua giữa T1 và H: T1 muốn đánh số nào, đài nào hoặc nhận đánh dùm cho N, T2, Đ, P thì nhắn số đánh kèm số tiền gửi cho H, Hoàng nhắn lại OK là xác nhận. Hình thức tin nhắn “”số đánh, loại hình, số tiền, tên đài xổ sô”, nếu đánh bao lô thì nhắn “bl”, đá cặp thì nhắn đá, đánh sỉu chủ nhắn “sc”, đánh đầu đuôi thì nhắn “dd”. Dựa vào kết quả xổ số của các đài xổ số kiến thiết trong ngày để tính các số, thắng thua theo tỉ lệ: Đánh 02 số, tỉ lệ thắng thua 1:75; đánh 03 số tỉ lệ 1:650; đá cặp 02 số tỉ lệ 1:530.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra các tin nhắn trên điện thoại di động của T1 và H đã xác định được con số ghi, số tiền ghi giữa T1 và Hoàng qua các ngày từ 22/12/2023 đến 26/01/2024. Cụ thể:
1. Hành vi đánh bạc của Đỗ Ngọc T1: T1 sử dụng điện thoại di động số 0768.924.xxx, tài khoản Zalo tên Đỗ Ngọc T1 để liên lạc ghi số đề với H qua số điện thoại di động 0962.469.xxx, tài khoản Zalo tên “Cậu cả”. Những số T1 đánh trực tiếp với H thì hai bên thanh toán với nhau, còn những số T1 đánh dùm cho N, T2, Đ, P thì T1 được hưởng từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Do việc ghi số đề diễn ra nhiều ngày, có ngày ăn, này thua nên T1 không xác định được số thu lợi qua việc đánh đề.
Từ ngày 22/12/2023, T1 bắt đầu ghi đề cho H đến ngày 26/01/2024 thì bị phát hiện. Cụ thể số tiền T1 ghi như sau:
- Ngày 22/12/2023 ghi đài miền N số tiền 120.000 đồng.
- Ngày 23/12/2023 ghi đài miền N 792.000 đồng; đài miền T 664.000 đồng; đài miền B 954.000 đồng.
- Ngày 24/12/2023 ghi đài miền N 1.100.000 đồng + tiền trúng 150.000 đồng;
- Ngày 25/12/2023 ghi đài miền N 1.352.000 đồng + tiền trúng 1.810.000 đồng; đài miền T3 1.116.000 đồng + tiền trúng 530.000 đồng; đài miền Bắc 1.612.000 đồng.
- Ngày 26/12/2023 ghi đài miền N 2.030.000 đồng + tiền trúng 3.245.000 đồng (số 55 đài Vũng Tàu bao lô 15.000 đồng, trúng 1.125.000 đồng, số 89-98-99 đá 1.000 đồng, trúng 1.590.000 đồng, số 07-10-70 đá 1.000 đồng, trúng 530.000 đồng), tổng tiền 5.275.000 đồng; đài miền T3 512.000 đồng; đài miền B 668.000 đồng.
- Ngày 27/12/2023 ghi đài miền N 3.441.000 đồng; đài miền T 504.000 đồng; đài miền B 3.115.000 đồng.
- Ngày 28/12/2023 ghi đài miền N 3.072.000 đồng; đài miền T 576.000 đồng; đài miền B 901.000 đồng.
- Ngày 29/12/2023 ghi đài miền N 1.310.000 đồng; đài miền T 308.000 đồng; đài miền B 736.000 đồng.
- Ngày 30/12/2023 ghi đài miền N 1.390.000 đồng; đài miền B 180.000 đồng.
- Ngày 31/12/2023 ghi đài miền N 890.000 đồng; đài miền T 436.000 đồng; đài miền B 429.000 đồng.
- Ngày 01/01/2024 ghi đài miền N 184.000 đồng; đài miền T 72.000 đồng; đài miền B 54.000 đồng.
- Ngày 02/01/2024 ghi đài miền N 216.000 đồng; đài miền B 285.000 đồng.
- Ngày 03/01/2024 ghi đài miền N 152.000 đồng; đài miền T 264.000 đồng; đài miền B 177.000 đồng.
- Ngày 04/01/2024 ghi đài miền N 1.239.000 đồng; đài miền T 432.000 đồng; đài miền B 231.000 đồng.
- Ngày 05/01/2024 ghi đài miền N 1.332.000 đồng; đài miền B 871.000 đồng.
- Ngày 06/01/2024 ghi đài miền N 1.542.000 đồng; đài miền T 652.000 đồng; đài miền B 1.377.000 đồng.
- Ngày 07/01/2024 ghi đài miền N 204.000 đồng; đài miền T 1.994.000 đồng; đài miền B 942.000 đồng.
- Ngày 08/01/2024 ghi đài miền N 1.428.000 đồng; đài miền T 256.000 đồng; đài miền B 1.127.000 đồng.
- Ngày 09/01/2024 ghi đài miền N 106.000 đồng; đài miền B 393.000 đồng.
- Ngày 10/01/2024 ghi đài miền N 402.000 đồng; đài miền B 756.000 đồng.
- Ngày 11/01/2024 ghi đài miền N 370.000 đồng; đài miền T 188.000 đồng; đài miền B 1.154.000 đồng.
- Ngày 12/01/2024 ghi đài miền N 722.000 đồng; đài miền T 368.000 đồng; đài miền B 756.000 đồng.
- Ngày 13/01/2024 ghi đài miền N 1.224.000 đồng; đài miền T 262.000 đồng; đài miền Bắc tiền ghi 1.962.000 đồng + tiền trúng 4.125.000 đồng (số 44 bao lô 50.000 đồng, trúng 3.750.000 đồng, số 44 bao lô 5.000 đồng, trúng 375.000 đồng), tổng tiền 6.087.000 đồng.
- Ngày 14/01/2024 ghi đài miền N 792.000 đồng; đài miền B 324.000 đồng.
- Ngày 15/01/2024 ghi đài miền N 398.000 đồng;
- Ngày 16/01/2024 ghi đài miền N 186.000 đồng; đài miền T 182.000 đồng.
- Ngày 17/01/2024 ghi đài miền T 152.000 đồng.
- Ngày 18/01/2024 ghi đài miền T 72.000 đồng; đài miền B 230.000 đồng.
- Ngày 19/01/2024 ghi đài miền T 224.000 đồng.
- Ngày 20/01/2024 ghi đài miền N 284.000 đồng; đài miền T 478.000 đồng; đài miền B 195.000 đồng.
- Ngày 22/01/2024 ghi đài miền N 177.000 đồng.
- Ngày 23/01/2024 ghi đài miền N 72.000 đồng; đài miền B 109.000 đồng.
- Ngày 24/01/2024 ghi đài miền N 72.000 đồng.
- Ngày 26/01/2024 ghi đài miền B 54.000 đồng.
2. Hành vi của Phạm Minh H:
H thống nhất toàn bộ số tiền ghi đề do T1 chuyển nêu trên. Riêng ngày 26/12/2023, do T1 trúng đề nên tổng số tiền ghi đề trong ngày là 5.275.000 đồng và ngày 13/01/2024 T1 trúng đề nên tổng số tiền ghi đề trong ngày 13/01/2024 là 6.087.000 đồng.
3. Hành vi của Đỗ Văn P, anh ruột của T1, có ghi đề cho T1 vào các ngày 07, 09 và 14/01/2024 với số tiền 375.000 đồng; Nguyễn Thanh L1, chú họ của T1, có ghi đề cho T1 vào các ngày 22 và 25/12/2023 với số tiền 61.000 đồng; Huỳnh Thị N ghi số đề cho T1 từ ngày 23/12/2023 với số tiền đánh từ 40.000 đồng đến 340.000 đồng; Phan Cẩm T4 ghi đề cho T1 từ ngày 27/12/2023 với số tiền đánh từ 80.000 đồng đến 500.000 đồng; sau khi có kết quả xổ số những người này sẽ thanh toán trực tiếp với T1.
Vật chứng:
- 01 điện thoại di động Samsung A34;
- 01 điện thoại di động OPPO RENO Z6;
- 01 điện thoại đi động Samsung A71;
- Trích hình ảnh tin nhắn trong điện thoại của T1 nội dung ghi số đề của T1 với H.
Bảng kê chi tiết nội dung tin nhắn ghi số đề, số tiền, có xác nhận của các đối tượng Đỗ Ngọc T1, Phạm Minh H, Nguyễn Thanh L1, Đỗ Văn P, Huỳnh Thị N, Phan Cẩm T4.
Vật chứng được chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh H, Đỗ Ngọc T1 đã khai nhận hành vi của mình như nội dung đã nêu trên. Lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Thanh L1, Đỗ Văn P, Huỳnh Thị N, Phan Cẩm T4 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra đã thu thập.
Tại bản cáo trạng số 313/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của các bị cáo H và T1, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1 phạm vào tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo H với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; đề nghị xử phạt bị cáo T1 với mức án từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng; Về hình phạt bổ sung và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
Các bị cáo H và T1 không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi: Từ ngày 22/12/2023 đến 26/01/2024, tại phường B, quận B, Đỗ Ngọc T1 ghi số đề với Phạm Minh H, trong đó số tiền ghi đề, trúng đề giữa T1 và H vào ngày 26/12/2023 T1 ghi đài miền N với số tiền 2.030.000 đồng + tiền trúng 3.245.000 đồng (số 55 đài Vũng Tàu bao lô 15.000 đồng, trúng 1.125.000 đồng, số 89-98-99 đá 1.000 đồng, trúng 1.590.000 đồng, số 07-10-70 đá 1.000 đồng, trúng 530.000 đồng), tổng tiền 5.275.000 đồng và vào ngày 13/01/2024 T1 ghi đài miền B với số tiền 1.962.000 đồng + tiền trúng 4.125.000 đồng (số 44 bao lô 50.000 đồng, trúng 3.750.000 đồng, số 44 bao lô 5.000 đồng, trúng 375.000 đồng), tổng tiền 6.087.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của 02 bị cáo là 11.362.000 đồng, thì bị phát hiện bắt quả tang, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, với tổng số tiền đánh bạc ghi trên phơi là 11.362.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo H và T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo H và T1 thuộc trường hợp cố ý phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng mà không phải thông qua lao động chân chính nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.
Các bị cáo H và T1 phạm tội 02 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuy nhiên khi lượng hình, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về hình phạt bổ sung: Không
[4] Về trách nhiệm dân sự: Không.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 điện thoại di động Samsung A34; 01 điện thoại di động OPPO RENO Z6; 01 điện thoại di động Samsung A71. Hội đồng xét xử xét các vật chứng trên liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh H: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc T1: 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung A34; 01 điện thoại di động OPPO RENO Z6; 01 điện thoại di động Samsung A71.
(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK25/15TV ngày 15/10/2024)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Phạm Minh H và Đỗ Ngọc T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ Thanh Phương |
Bản án số 308/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 308/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh H
