TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 308/2024/HS-ST
Ngày 14-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 307/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 320/2024/QĐXXST- HS ngày 03/10/2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1981 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Thôn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: bốc vác; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1952; vợ: Trần Thị N, sinh năm: 1984; có 04 người con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020); tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1973; trú tại: 2 đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị P, sinh năm: 1952, trú tại: Thôn T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/7/2024, Lê Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36N2- 2547 màu đen xanh, đi đến Văn phòng công chứng “Trần Thanh V” ở địa chỉ 229, Trần Hưng Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để công chứng giấy tờ bán nhà. Tại đây, T phát hiện có một điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng gold, ốp lưng bằng nhựa trắng của chị Nguyễn Thị Thu T2 để trên quầy gỗ bên phải nơi T ngồi trong văn phòng công chứng. T nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại di động trên để sử dụng. T lén lút dùng tay phải lấy chiếc điện thoại cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi ra khu vực để xe mô tô 36N2-2547 và lấy điện thoại cất giấu vào trong cốp xe. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi làm xong thủ tục giấy tờ tại văn phòng C điều khiển xe mô tô biển số 36N2-2547 quay về nhà trọ tại số G, hẻm B, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau khi bị mất điện thoại, chị T2 dùng điện thoại khác để định vị điện thoại bị mất trộm thì định vị điện thoại di chuyển về địa bàn phường A nên chị T2 đã đến Công an phường A trình báo. Theo định vị của chị T2, Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ G, hẻm B, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình kiểm tra Lê Văn T lấy chiếc điện thoại Iphone XSMAX màu vàng gold có ốp lưng trắng của chị T2 từ cốp xe Wave biển số 36N2-2547 giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 130/BBDG-HDDGTS ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D chiếc điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng gold, ốp lưng bằng nhựa trắng trị giá 4.500.000 đồng; ốp lưng bằng nhựa màu trắng trị giá 5.000 đồng. Tổng trị giá là 4.505.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số: 3823/KL-KTHS ngày 14/08/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong mẫu vật ký hiệu A có 01 (một) tập tin video.
Tập tin video có tên: clip VPCC Trần Thanh V.mp4.
+ MD5: 82a3066c2a915c37004e582c325a155a.
+ Dung lượng: 46.3MB, thời lượng 05 phút 06 giây, số khung hình: 7658.
+ Được trích xuất thành: 12 (mười hai) khung hình.
- Đoạn video không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, thay đổi nội dung.
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 xe mô tô biển số 36N2-2547, SK: 09067Y641775, SM: HC09E5741678 là tài sản của ông Lê Văn T1 (cha ruột của Lê Văn T) đứng tên chủ sở hữu.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX màu vàng gold, ốp lưng bằng nhựa màu trắng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì.
Tại bản Cáo trạng số 314/CT-VKS - DA ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Tòa án áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Đối với 01 xe mô tô biển số 36N2- 2547, SK: 09067Y641775, SM: HC09E5741678 là tài sản của ông Lê Văn T1 (cha ruột của Lê Văn T) đứng tên chủ sở hữu, hiện ông T1 đã chết. Trước khi chết ông T1 đã giao chiếc xe trên lại cho vợ là bà Hoàng Thị P (mẹ của Lê Văn T) sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Lê Văn T mượn xe máy trên của bà P để làm phương tiện đi lại, bà Hoàng Thị P không biết T sử dụng xe trên vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định trả lại xe mô tô biển số 36N2-2547 cho bà Hoàng Thị P.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX màu vàng gold, ốp lưng bằng nhựa màu trắng là tài sản của chị Nguyễn Thị Thu T2 bị chiếm đoạt. Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trưng cầu Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã giao trả tài sản lại cho chị Nguyễn Thị Thu T2 theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/7/2024, tại Văn phòng Công chứng “Trần Thanh V” ở địa chỉ 229, Trần Hưng Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Lê Văn T lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng gold ốp lưng bằng nhựa trắng của chị Nguyễn Thị Thu T2 để trên quầy gỗ bên phải trong văn phòng. Theo kết quả định giá chiếc điện thoại trị giá là 4.505.000₫ (bốn triệu năm trăm lẻ năm nghìn đồng).
Hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại nên không gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn và đã thu hồi trả lại cho bị hại, vì vậy nên Hội đồng xét xử thấy có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thị Thu T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự Tòa án không đặt ra.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 36N2- 2547, SK: 09067Y641775, SM: HC09E5741678 là tài sản của ông Lê Văn T1 (cha ruột của Lê Văn T) đứng tên chủ sở hữu, hiện ông T1 đã chết. Chiếc xe trên hiện vợ ông T là bà Hoàng Thị P (mẹ của Lê Văn T) quản lý sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Lê Văn T mượn xe máy trên của bà P để làm phương tiện đi lại, bà Hoàng Thị P không biết T sử dụng xe trên vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định trả lại xe mô tô biển số 36N2-2547 cho bà Hoàng Thị P là phù hợp quy định của pháp luật.
[9] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 173; Điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) tháng 08 (tám) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024. Khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo đã chấp hành xong.
Áp dụng khoản 3 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lê Văn T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, bị bắt tạm giam về một tội phạm nào khác.
- Về án phí : Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 308/2024/HS-ST ngày 14/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 308/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoản 1
