Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 308/2023/HS-ST

Ngày: 20-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Phước Trinh;
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 278/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hồ T, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G Đường số A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: A Đường số A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1968 và bà Hồ Thị Cẩm H, sinh năm: 1971; anh, chị, em ruột: 04 người kể cả bị cáo; vợ: Mai Thị L, sinh năm: 1992; con: 02 người, sinh năm 2009 và sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2011, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 216/2011/HS-ST ngày 22/9/2011. Ngày 10/8/2013 chấp hành xong trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/5/2023 đến ngày 01/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1/ Ông Võ Quốc D, sinh năm: 2000; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Ông Đỗ Ngọc T1; sinh năm: 2002; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/5/2023, Nguyễn Hồ T đang ở nhà trọ tại Số A Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì có người bạn tên T2 (chưa rõ lai lịch) đến mượn xe gắn máy biển số 52M5-7917 của T đi mua ma túy và nhờ T mang ma túy đi bán cho một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “T3” ở huyện C thì T đồng ý. T2 điều khiển xe gắn máy đi khoảng 30 phút sau thì quay lại nói với T ma túy giấu trong bộ phận lọc gió của xe, T2 kêu T đi bán với giá 15.000.000 đồng, trả công 500.000 đồng thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy biển số 52M5-7917 đi đến huyện C để bán ma túy. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đang đi trên Đường số D đoạn thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trong bộ phận lọc gió của xe gắn máy biển số 52M5-7917 có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại số nhà A Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì.

Tiến hành xét nghiệm (test) ma túy đối với T có kết quả dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp (ma túy đá).

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong trong gói mang số vụ 1178/23 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 1: 869474050172177, số Imei 2: 869474050172169. Đây là điện thoại của T dùng để liên lạc bán trái phép chất ma túy;
  • 01 (một) xe gắn máy biển số 52M5-7917, số máy, số khung: Không xác định.

Qua điều tra, T khai nhận đã mua chiếc xe này từ một người khác (chưa rõ lai lịch) vào năm 2020 và sử dụng làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma túy. Kết quả xác minh biển số xe 52M5-7917 được biết xe hiệu ROMANTIC, loại C110, số khung: RT110Y0701131, số máy: 1P50FMHY0132207 do Toàn Như M (nơi cư trú: Số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký sở hữu, kết quả xác minh không có địa chỉ trên nên chưa làm việc được với Toàn Như M, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên.

Tại Bản kết luận giám định số 5509/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: (bút lục 51)

Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 24,1055 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hồ T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bản cáo trạng số: 259/CT-VKS-CC ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Bị cáo Nguyễn Hồ T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồ T thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 5509/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng K Công an Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ T từ 13 (mười ba) năm đến 14 (mười bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên T2 và người sử dụng tài khoản Zalo tên “T3", Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.

Bị cáo T không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 259/CT-VKS-CC ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/5/2023 tại Đường số D đoạn thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hồ T đang tàng trữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 24,1055 gam, loại Methamphetamine (theo Bản kết luận giám định số 5509/KL-KTHS ngày 30/5/2023) mục đích để bán cho người khác thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồ T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hồ T

đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Bị cáo Nguyễn Hồ T là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồ T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, bị cáo T là người nghiện ma túy, nghề nghiệp công nhân không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nhân thân: Vào năm 2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 216/2011/HSST ngày 22/9/2011. Ngày 10/8/2013 chấp hành xong trở về địa phương.

[7] Xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong trong gói mang số vụ 1178/23 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên. Đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 869474050172177, số Imei 2: 869474050172169. Đây là điện thoại của T dùng để liên lạc bán trái phép chất ma túy; là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[8] Những vấn đề khác của vụ án:

- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số: 52M5-7917, số khung: RT110Y0701131, số máy: 1P50FMHY0132207. Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

- Đối với đối tượng tên T2 và người sử dụng tài khoản Zalo tên “T3", Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát không ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Điều luật, tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2023.

[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong trong gói mang số vụ 1178/23 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 869474050172177, số Imei 2: 869474050172169.
  • - Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số: 52M5-7917, số khung: RT110Y0701131, số máy: 1P50FMHY0132207 để giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Các vật chứng trên được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 197/PNK ngày 17/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, bút lục 87)

[3] Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Hồ T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 308/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 308/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger