|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 308/2024/DS-ST
Ngày 19-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 556/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 476/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 376A/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C; địa chỉ: Số A T, phường C, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lương Thanh H sinh năm 1970; địa chỉ: Số B, P, K, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chức vụ: trưởng phòng G là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/8/2024). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1982 và ông Mai Thanh T, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: Số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: 1 C, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 10 tháng 7 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Lương Thanh H trình bày:
Giữa bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T với Ngân hàng TMCP C (viết tắt Ngân hàng V) có ký các hợp đồng tín dụng tại Chi nhánh B như sau:
1. Hợp đồng cho vay số 20840215/2020-HĐCV/NHCT640 ký kết ngày 14/10/2020, mục đích cho vay: nhận quyền sử dụng đất ở phục vụ đời sống, số tiền cho vay: 3.850.000.000 đồng (ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay: 240 tháng.
Tổng dư nợ của khoản vay (tính đến hết ngày 19/9/2024) là 3.394.922.795 đồng (ba tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu chín trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng), trong đó: 3.090.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 22.349.589 đồng, nợ lãi quá hạn 282.573.205 đồng.
2. Hợp đồng cho vay hạn mức số 22840012/2022-HĐCVHM/NHCT640 ký kết ngày 12/01/2022, mục đích cho vay: bổ sung vốn kinh doanh mua bán thịt gia cầm, số tiền cho vay: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), thời hạn vay: 12 tháng.
Tổng dư nợ của khoản vay (tính đến hết ngày 19/9/2024) là 562.010.129 đồng (năm trăm sáu mươi hai triệu không trăm mười nghìn một trăm hai mươi chín đồng), trong đó: nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 62.010.129 đồng.
3. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dung thẻ tài chính cá nhân số 23490011 ngày 30/5/2023, hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), mục đích vay vốn: tiêu dùng, thời hạn thẻ: 60 tháng.
Số tiền còn nợ (gốc, lãi phạt) tính đến ngày 19/9/2024 là 112.411.586 đồng (một trăm mười hai triệu bốn trăm mười một nghìn năm trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 109.400.055 đồng, nợ lãi quá hạn 3.011.531.đồng
Tài sản thế chấp để đảm bảo nợ vay là quyền sử dụng đất có đặc điểm như sau: diện tích 128,8m², tại thửa số: 2896, tờ bản đồ số: 32, đất tọa lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành CO 116385, số vào sổ cấp GCN CS17045 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2018, cập nhật biến động gần nhất ngày 30/10/2020 cho bà Trần Thị M. Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 20840121/2020/HĐBĐ/NHCT640 ký kết ngày 04/11/2020 do V1, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 04/11/2020, số công chứng 9985, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo các hợp đồng cho vay đã ký, toàn bộ khoản vay hiện tại đã chuyển sang nợ xấu nhóm 5.
Vì vậy, ngân hàng V khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T phải thanh toán cho ngân hàng V tổng số tiền 4.069.344.510 đồng, trong đó: nợ gốc 3.699.400.055 đồng nợ lãi: 369.944.455 đồng.
Bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T còn phải trả các khoản lãi, lãi phạt và chi phí khác phát sinh theo các hợp đồng cho vay kể trên kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Trong trường hợp bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng V, đề nghị Tòa án yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế, phát mãi toàn bộ các tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Đối với bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, yêu cầu bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T đến Tòa án làm việc đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhưng nhưng tại thời điểm tống đạt bà M và ông T không có mặt tại địa chỉ 1, khu phố T, phường D, tỉnh Bình Dương. Ngày 06/8/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại công an phường D, thành phố D, nội dung xác minh: “Qua xác minh bà Trần Thị M, sinh năm 1982 và ông Mai Thanh T, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng không còn sinh sống tại địa chỉ 127, Tổ A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Ông T và bà M hiện đi đâu, làm gì không rõ”. Vì vậy, Tòa án đã gửi văn bản thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (Đ, B1 và Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương) cho bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T với nội dung:
“- Tòa án triệu tập bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 20/8/2024 có mặt tại tại thửa đất số 2896, tờ bản đồ số 32 tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Tòa án triệu tập bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 26/8/2024 có mặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Tòa án triệu tập bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 11/9/2024 để tham gia phiên tòa.
- Trường hợp bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T vắng mặt ngày 11/9/2024, Tòa án quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án tiếp tục triệu tập bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 19/9/2024 để tham gia phiên tòa. Nếu bà M và ông T vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định”.
Như vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
- Ông Lê Văn T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 20/8/2024 ông T1 trình bày:
Ông T1 là anh kết nghĩa của ông Mai Thanh T, do căn nhà để trống nên ông T mượn để buôn bán kiếm thêm thu nhập. Khi mượn nhà ông T có làm thêm một nhà tạm cột sắt, vách tôn, mái tôn, móng gạch, không có trần, nền bê tông, xi măng (không có nhà vệ sinh bên trong). Toàn bộ tài sản này ông T cam kết di dời khi ngân hàng có yêu cầu. Ông T không tranh chấp và không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa bằng hình thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Ông Lê Văn T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Hợp đồng cho vay số 20840215/2020-HĐCV/NHCT640 ký kết ngày 14/10/2020, Hợp đồng cho vay hạn mức số 22840012/2022-HĐCVHM/NHCT640 ký kết ngày 12/01/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dung thẻ tài chính cá nhân số 23490011 ngày 30/5/2023 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP C (ngân hàng V) với bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện các hợp đồng ngân hàng V đã giải ngân cho cho bà M, ông T vay tổng số tiền 4.450.000.000 đồng, trong đó theo giấy nhận nợ ngày 16/10/2020 là 3.850.000.000 đồng, theo giấy nhận nợ 02 là 500.000.000 đồng và theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dung thẻ tài chính cá nhân là 100.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà M và ông T đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán và chuyển thành các khoản nợ quá hạn từ ngày 25/4/2023. Xét thấy, bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Văn T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn ngân hàng V kiện yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Văn T2 thanh toán số tiền còn lại theo các hợp đồng trên với tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/9/2024 là 4.069.344.510 đồng, trong đó: nợ gốc 3.699.400.055 đồng nợ lãi: 369.944.455 đồng và tiền lãi quá hạn tiếp tục tính từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
[4.1] Đối với Quyến sử dụng đất diện tích 128,8m², thuộc thửa số 2896, tờ bản đồ số 32 tọa lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành CO 116385, số vào sổ cấp GCN CS17045 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2018, cập nhật biến động gần nhất ngày 30/10/2020 cho bà Trần Thị M. Xét thấy, tài sản bảo đảm được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp giữa Ngân hàng V với bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T là hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật và tuân thủ quy định về hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến việc Ngân hàng V chấm dứt cho vay, thu nợ trước hạn và Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng V là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận.
[4.2] Ngoài ra, trên diện tích đất thế chấp còn có các tài sản sau:
[4.2.1] Tài sản của bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T (không thể hiện trong hợp đồng thế chấp): nhà một tầng có kết cấu như sau: Mái tôn, vách gạch, nền gạch, cột gạch, có trần nhựa, cửa sắt kính, 01 bồn nước (có chân sắt, chiều cao thấp hơn 10 m), 01 đồng hồ nước chính, 01 đồng hồ điện kế chính, 01 cửa cuốn, 01 cửa sắt. Theo quy định tại khoản 3 Điều 318 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 325 quy định: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Từ những quy định nêu trên cần phát mại các tài sản trên đất không thế chấp để đảm bảo quyền thu hồi nợ của Ngân hàng V.
[4.2.2] Tài sản của ông Lê Văn T1 (không thể hiện trong hợp đồng thế chấp): một nhà tạm cột sắt, vách tôn, mái tôn, móng gạch, không có trần, nền bê tông, xi măng (không có nhà vệ sinh bên trong). Đối với tài sản này, ông Lê Văn T1 tự nguyện di dời khi có yêu cầu.
[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T phải chịu 5.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và các Điều 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
- Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
- Căn cứ các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 325 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C đối với bị đơn bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
1.1. Buộc bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/9/2024 với tổng số tiền 4.069.344.510 đồng, trong đó: nợ gốc 3.699.400.055 đồng nợ lãi: 369.944.455 đồng, trong đó:
- Số tiền nợ đối với Hợp đồng cho vay số 20840215/2020-HĐCV/NHCT640 ký kết ngày 14/10/2020 là 3.394.922.795 đồng, trong đó: nợ gốc 3.090.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 22.349.589 đồng, nợ lãi quá hạn 282.573.205 đồng.
- Số tiền nợ đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số 22840012/2022-HĐCVHM/NHCT640 ký kết ngày 12/01/2022 là 562.010.129 đồng, trong đó: nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 62.010.129 đồng.
- Số tiền nợ đối với Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dung thẻ tài chính cá nhân số 23490011 ngày 30/05/2023 là 112.411.586 đồng, trong đó: nợ gốc là 109.400.055 đồng, nợ lãi quá hạn 3.011.531.đồng
Kể từ ngày 20/9/2024, bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng TMCP C theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số 20840215/2020-HĐCV/NHCT640 ký kết ngày 14/10/2020, Hợp đồng cho vay hạn mức số 22840012/2022-HĐCVHM/NHCT640 ký kết ngày 12/01/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử dung thẻ tài chính cá nhân số 23490011 ngày 30/5/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Trong trường hợp bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ, bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất có diện tích 128,8m², thuộc thửa số 2896, tờ bản đồ số 32 tọa lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành CO 116385, số vào sổ cấp GCN CS17045 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2018, cập nhật biến động gần nhất ngày 30/10/2020 cho bà Trần Thị M.
+ Các tài sản gắn liền với đất gồm: nhà một tầng có kết cấu: mái tôn, vách gạch, nền gạch, cột gạch, có trần nhựa, cửa sắt kính, 01 bồn nước (có chân sắt, chiều cao thấp hơn 10 m), 01 đồng hồ nước chính, 01 đồng hồ điện kế chính, 01 cửa cuốn, 01 cửa sắt.
2. Buộc ông Lê Văn T1 di dời một nhà tạm có kết cấu: cột sắt, vách tôn, mái tôn, móng gạch, không có trần, nền bê tông, xi măng (không có nhà vệ sinh bên trong) để trả lại tài sản thế chấp cho Ngân hàng TMCP C.
3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T phải chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng. Ngân hàng TMCP C đã tạm ứng chi phí này, bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T, có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP C 5.000.000 (năm triệu) đồng.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị M và ông Mai Thanh T phải chịu 112.069.000 (một trăm mười hai triệu không trăm sáu mươi chín nghìn) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền 55.726.485 (năm mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi lăm) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001265 ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - Các đương sự (02); - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 308/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 308/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP C khời kiện Trần Thị M và ông Mai Thanh T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
