TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 308/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng Nghiệp;
- Ông Phan Phước Tân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 394/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 432/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C, khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Tống Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Số C, khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Thị Mỹ P vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Tống Văn T vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Nguyễn Thị Mỹ P; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Tống Văn T do cha mẹ định đoạt nên tiến đến hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 1/2010 ngày 14/6/2010. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông T thường xuyên ăn nhậu, chửi mắng và có hành vi bạo lực gia đình đối với bà P. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Bà P và ông T sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Tống Hoàng Nhật M, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Á, sinh ngày 14/01/2016. Con chung hiện đang sống với bà P. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Tống Văn T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/7/2024 nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T, ông T cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Ngày 08/7/2024, bà P có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa.
- Về tài liệu, chứng cứ:
Các tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị Mỹ P giao nộp: Chứng nhận kết hôn số 39 ngày 14/6/2000 (bản chính); Giấy khai sinh mang tên Tống Hoàng Nhật M, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Á, sinh ngày 14/01/2016 (bản sao); Bản sao Căn cước công dân mang Nguyễn Thị Mỹ P.
Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại khóm A, thị trấn A, huyện A ngày 08/7/2024; bản chính bản tự khai người làm chứng mang tên La Thị N kèm căn cước công dân.
Tại phiên tòa, do bà P và ông T đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chung cùng ngày 08/7/2024, cháu Tống Hoàng Nhật M và cháu Tống Hoàng Khả Á đều mong muốn được tiếp tục chung sống với bà P.
Theo Biên bản xác minh ngày 08/7/2024 có sự xác nhận của Công an thị trấn A, đại diện Ban khóm A, thị trấn A cho biết: Ông Tống Văn T, sinh ngày 09/12/1986 có nơi thường trú tại: khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. Ông T hiện đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về địa phương vào các dịp lễ, Tết. Ông T có cha là ông Tống Văn T1 thường xuyên sinh sống tại địa phương.
Theo bản tự khai ngày 28/6/2024, bà La Thị N cho biết: Bà P là con ruột của bà N. Bà N trình bày thống nhất với bà P về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, về con chung. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên ăn nhậu, chửi mắng và có hành vi bạo lực gia đình đối với bà P. Bà N cũng đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn. Bà P và ông T đã sống ly thân nhau khoảng 02 năm nay. Do bận công việc làm ăn nên bà N yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ P; về con chung, đề nghị giao con chung tên Tống Hoàng Nhật M, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Á, sinh ngày 14/01/2016 cho bà P được nuôi dưỡng và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; bà P khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, ông T không phải chịu án phí.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Tống Văn T đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy ông T đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Tống Văn T có nơi thường trú tại: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim P1 và ông Tống Văn T do cha mẹ định đoạt tiến đến hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 14/6/2010. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Bà P1 và ông T sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P1 và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Tống Hoàng Nhật M, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Á, sinh ngày 14/01/2016. Con chung hiện đang sống với bà P1. Sau khi xem xét yêu cầu của bà P1, nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà P1 được tiếp tục nuôi dạy con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà P1 về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà P1 vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà P1 trong việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ông Tống Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Nguyễn Thị P1. Ngược lại, bà P1 cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà P1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này ông T có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. ông Tống Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bà P và ông T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với ông Tống Văn T.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được trực tiếp nuôi dạy 02 con chung tên: Tống Hoàng Nhật M, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Á, sinh ngày 14/01/2016. Ông Tống Văn T không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Ông Tống Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Nguyễn Thị Mỹ P. Ngược lại, bà P cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009540 ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Ông Tống Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Tống Văn T. Bà P và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 308/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 308/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng và ông Tống Văn Thọ do cha mẹ định đoạt nên tiến đến hôn nhân vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 1/2010 ngày 14/6/2010. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông Thọ thường xuyên ăn nhậu, chửi mắng và có hành vi bạo lực gia đình đối với bà Phượng. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Bà Phượng và ông Thọ sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Phượng yêu cầu được ly hôn với ông Thọ. Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Tống Hoàng Nhật Minh, sinh ngày 15/4/2011 và Tống Hoàng Khả Ái, sinh ngày 14/01/2016. Con chung hiện đang sống với bà Phượng. Sau khi ly hôn, bà Phượng yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung và không yêu cầu ông Thọ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
