Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-6-2025

V/v: ly hôn, nuôi con chung giữa

anh Phạm Thế Cường và chị Lê

Thị Thanh Mai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng

Bà Nguyễn Thị Minh Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án của Tòa án

nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Mai Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Thế C, sinh ngày 30-10-1982; Cư trú tại: Số D

đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân:

036082017817. Có đơn đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Thanh M, sinh ngày 16-6-1991; Cư trú tại: Số D V,

phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Số căn cước công dân: [...].

Có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 13-5-2025, Bản tự khai đề ngày 13-5-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Thế C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Thanh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30-6-2009 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, chị M đã chuyển về thành phố N, tỉnh Khánh Hòa sinh sống. Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh ly hôn với chị Lê Thị Thanh M.

Về con chung: Anh C và chị M có 01 con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ. Hiện nay cháu H đang ở cùng với anh C. Anh C có nguyện vọng, nếu Toà án giải quyết cho anh ly hôn với chị M thì giao cho anh được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H cho đến khi cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh C không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh C không yêu cầu giải quyết.

2. Tại Bản tự khai đề ngày 14-5-2025, bị đơn là chị Lê Thị Thanh M trình bày thống nhất với các nội dung như anh C đã trình bày về quan hệ hôn nhân, con chung, vấn đề cấp dưỡng và vấn đề tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản.

Chị M đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh C; đồng ý giao con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; và không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản.

3. Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Phạm Lê Gia H trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố là Phạm Thế C.

4. Kết quả xác minh ngày 29-5-2025 của Toà án tại địa phương nơi anh Phạm Thế C cư trú xác nhận: Anh Phạm Thế C, sinh năm 1982 và chị Lê Thị Thanh M, sinh năm 1991 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh C và chị M có 01 con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ. Về việc anh C và chị M phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm được.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là anh C đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là chị M đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh C. Về con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ cho anh Phạm Thế C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí ly hôn sơ thẩm, các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Anh Phạm Thế C có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với chị Lê Thị Thanh M. Xét thấy, tranh chấp giữa anh C và chị M là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là anh Phạm Thế C và bị đơn là chị Lê Thị Thanh M có đơn lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

[1.3] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là anh Phạm Thế C và bị đơn là chị Lê Thị Thanh M đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh C và chị M.

[2] Về nội dung vụ án.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 30-6-2009 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng không hoà thuận, có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh C và chị M đã sống ly thân nhiều năm nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C và chị M đều có quan điểm đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải.

Xét thấy quan hệ hôn nhân của anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M hiện đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M.

[2.2] Về nuôi con chung: Anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M có 01 con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ.

Xét thấy từ khi anh C và chị M sống ly thân, cháu H đã sinh sống và học tập ổn định cùng anh C và do anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh C và chị M đều có quan điểm giao cháu H cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho anh Phạm Thế C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ.

Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh Phạm Thế C không yêu cầu chị Lê Thị Thanh M cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh C và chị M không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn là anh Phạm Thế C phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M.

2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Phạm Thế C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thanh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lê Thị Thanh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phạm Thế C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) anh Phạm Thế C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002806 ngày 13 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

4. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M có quyền kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Nam Định
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - UBND P. Phước Tân, TP. Nha Trang,
  • tỉnh Khánh Hoà (ĐK ngày 30-6-2009)
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 308/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 308/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Phạm Thế C và chị Lê Thị Thanh M. 2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Phạm Thế C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Lê Gia H, sinh ngày 08-3-2008, giới tính: Nữ. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thanh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger