Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 308/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v Tranh chấp hôn nhân

và gia đình.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thành và bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu L, sinh năm: 1981; địa chỉ: Tổ F, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền: Công ty L2; địa chỉ: Số B, ngõ A N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Nguyễn Anh T. Đại diện được cử, ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm: 2001; địa chỉ: P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1975; địa chỉ: Tổ F, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thu L trình bày có nội dung được tóm tắt như sau: Chị và anh Nguyễn Văn T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận L, thành phố Hà Nội ngày 09/02/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại tổ F, phường N. Cuộc sống chung của vợ chồng sau kết hôn hòa thuận, bình thường, đến năm 2016 thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do hai bên bất đồng trong quan điểm sống, trong nuôi dạy con chung và có thời gian anh T2 còn nghiện ma túy và vi phạm pháp luật. Đến năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng hai bên tuy ở cùng nhà nhưng không còn quan hệ tình cảm và nói chuyện với nhau. Đã nhiều lần hai bên ngồi lại và cho nhau thêm cơ hội nhưng không có kết quả. Nay chị L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Nguyễn Văn T2 để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị và anh T2 có 01 con chung với nhau là Nguyễn Việt T3, sinh ngày 26/10/2011, hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị L xác định mình có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH T4 thu nhập khoảng 8.800.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T2: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh T2 đều vắng mặt không có lý do chính đáng, nên không có quan điểm. Việc triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định tại Điều 173, 174, 175, 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên:

Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử, nguyên đơn chị L đã chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn anh T2 không chấp hành các quy định của bộ luật tố tụng dân dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về tình cảm: Đề nghị HĐXX, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L1. Xử cho chị L1 được ly hôn anh Nguyễn Văn T2.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Việt T3, sinh ngày 26/10/2011 cho chị L1 nuôi dưỡng cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), nếu không có sự thay đổi nào khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung đối với anh T2 do chị L1 chưa yêu cầu.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị L1 phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thu L nộp đơn xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T2 có địa chỉ: Tổ F, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt, nhưng đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có mặt, nên căn cứ vào khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh T2.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu L và anh Nguyễn Văn T2 kết hôn với nhau hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận L ngày 09/02/2012. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn, tuy ở cùng nhà như đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân theo chị L: Do hai bên bất đồng trong quan điểm sống, trong nuôi dạy con chung và có thời gian anh T2 còn nghiện ma túy và vi phạm pháp luật. Hai bên không còn biện pháp nào để hàn gắn tình cảm, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh T2. Đối với anh T2 quá trình giải quyết không có mặt nên không có quan điểm. Qua xác minh tại phường N được biết: Chị L và anh T2 không đề nghị hòa giải tại cơ sở, nên địa phương cũng không nắm được mâu thuẫn của vợ chồng, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Quá trình Tòa án thụ lý bà Đặng Thị H là mẹ đẻ của chị L cho biết: Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T2 thường xuyên tụ tập bạn bè chơi bời, bỏ bê gia đình, khi say rượu về thường có hành vi đánh vợ con. Ngoài ra anh T2 còn có hành vi tàng trữ sử dụng chất cấm bị xử lý hình sự và đi tù một thời gian. Sau khi đi tù về hai bên sống ly thân mỗi người ở một phòng. Xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị L và anh T2 là có thật, hai bên đã sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị L làm đơn ly hôn nhưng anh T2 không phối hợp để giải quyết. Vì vậy, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Nguyễn Văn T2.

[3] Về con chung: Chị L và anh T2 có với nhau 01 con chung là Nguyễn Việt T3, sinh ngày 26/10/2011. Ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi, chị xác định có đủ điều kiện nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay con chung vẫn đang ở với chị L, được chị L chăm sóc đầy đủ, chu đáo, bản thân cháu Việt T3 cũng có nguyện vọng ở với mẹ, nên yêu cầu được nuôi con chung của chị L là chính đáng, phù hợp với pháp luật, cần chấp nhận. Về cấp dưỡng, chị L không yêu, nên không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản chung; tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị L không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thu L. Chị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T2.
  2. Về con chung: Chị L và anh T2 có 01 con chung là Nguyễn Việt T3, sinh ngày 26/10/2011.

    - Giao cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Việt T3, sinh ngày 26/10/2011 cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi (nếu không có sự thay đổi nào khác về việc nuôi con chung). Sau khi ly hôn, anh T2 có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

    - Về cấp dưỡng: Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung là cháu Việt T3 đối với anh T2 do chị L chưa có yêu cầu.

  3. Về tài sản chung; tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thu L phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0051622 ngày 10/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, thành phố Hà Nội; chị L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 308/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 308/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger