Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2025/DS-PT

Ngày: 05-6-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Tuyền

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 5 và 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 75/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1966;

2. Bà Trương Thị N1, sinh năm 1967;

Cùng địa chỉ: ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị Thúy A (tên thường gọi là D), sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bà Trương Thị Ngọc D, sinh năm 1981; Địa chỉ: khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

2

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn bà Trương Thị L cùng những lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền như sau:

Bà L cho vợ chồng ông N, bà N1 vay nhiều lần, tổng cộng 210.500.000 đồng. Ngày 30/5/2022, ông N và bà N1 viết lại biên nhận nợ số tiền 208.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 30/5/2023. Đến ngày 11/8/2023, ông N trả cho bà L 100.000.000 đồng (tại nhà bà D), còn nợ lại 110.500.000 đồng và 2.836.000 đồng tiền lãi.

Bà L khởi kiện yêu cầu ông N và bà N1 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 108.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bà L rút lại yêu cầu khởi kiện số tiền gốc 2.500.000 đồng (không có biên nhận nợ) và tiền lãi 2.836.000 đồng.

Bị đơn ông Trần Văn N, bà Trương Thị N1 có yêu cầu phản tố và ông Trần Văn T là người đại diện theo ủy quyền của bà N1 có lời trình bày như sau: Ông N và bà N1 thừa nhận có vay của bà L nhiều lần tổng cộng 208.000.000 đồng, có viết biên nhận ngày 30/5/2022. Trong khoản vay 208.000.000 đồng có 38.000.000 đồng do con ông N và bà N1 là bà A nợ tiền hụi nên bà L cộng vào. Ông N đã trả cho bà L được 248.000.000 đồng. Cụ thể: Lần thứ nhất 18.000.000 đồng (cấn trừ bà L lấy xe của bà A), lần thứ hai 70.000.000 đồng (bà L không ghi biên nhận), lần thứ ba 60.000.000 đồng (mỗi tháng trả dần 4.000.000 đồng, trả được 15 tháng bà L có lăn tay xác nhận ở quyển sổ theo dõi do ông N ghi), lần thứ tư 100.000.000 đồng (tại nhà bà D, mục đích ông N qua nhà bà D để cho bà L lăn tay xác nhận vào quyển sổ, thì bị bà L đánh và giật của ông N). Ông N và bà N1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Ông N và bà N1 khởi kiện yêu cầu bà L trả lại cho ông N và bà N1 số tiền 40.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thúy A có yêu cầu độc lập và có lời trình bày như sau: Bà A thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông N và bà N1. Trong vụ án này bà A có khởi kiện bà L buộc trả lại cho bà số tiền 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà A rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Ngọc D có lời trình bày như sau: Bà D cho bà L vay số tiền 108.000.000 đồng, không có cho ông N và bà N1 vay. Vì vậy, khi ông N đến nhà bà D trả tiền, bà D không đồng ý nhận nên gọi bà L đến nhận 100.000.000 đồng. Ông N yêu cầu bà L lăn tay vào sổ theo dõi hàng tháng trả 4.000.000 đồng tiền lãi, không có hai chữ “trả dần”. Bà L không đồng ý lăn tay thì ông N nói không lăn tay ông N không trả tiền nên bà L lăn tay. Sau khi trả 100.000.000 đồng, ông N nói còn nợ bà L 108.000.000 đồng, hàng tháng trả 1.000.000 đồng. Sau đó, hai bên xảy ra xô xát nên ra Công an thị trấn H giải quyết. Trong vụ án này bà D không có yêu cầu độc lập.

Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được.

3

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà L về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông N và bà N1 với số tiền gốc 2.500.000 đồng và tiền lãi 2.836.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông N và bà N1.

Buộc ông N và bà N1 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 108.000.000 (một trăm lẻ tám triệu) đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của ông N và bà N1 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà L với số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

Đình chỉ toàn bộ yêu cầu yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà A về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà L với số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

Về chi phí thu thập chứng cứ: Bà L có nghĩa vụ chịu 2.000.000 đồng, đã nộp tạm ứng và chi phí xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông N và bà N1 có nghĩa vụ chịu 7.400.000 đồng, khấu trừ 2.000.000 đồng tiền tạm ứng phí theo các biên lai thu số 0004430, 0004431 cùng ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ. Ông N và bà N1 có nghĩa vụ nộp số tiền 5.400.000 (năm triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Hoàn trả cho bà A 1.000.000 (một triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004432 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ.

Bà L thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền và nghĩa vụ của các đương sự ở giai đoạn thi hành án.

Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông N và bà N1 kháng cáo không đồng ý liên đới trả nợ cho bà L.

4

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn ông N có lời trình bày:

Ông xác định chỉ vay của bà L số tiền 96.000.000 đồng, bà L tính tiền lãi thành 208.000.000 đồng, cách tính và thời gian tính tiền lãi như thế nào do bà L tính ông N không biết. Sau đó ông N trả cho bà L số tiền 70.000.000 đồng, bà L không ký giấy nhận tiền và không có người làm chứng. Bà Liên tiếp T1 lấy xe Honda của con gái ông tên A mới mua 18.000.000 đồng, sau đó ông có trả 100.000.000 đồng nên tổng số tiền trả cho bà L 248.000.000 đồng. Ông đã trả cho bà L hàng tháng 4.000.000 đồng, trả dần trong 15 tháng tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Nên yêu cầu bà L trả lại cho ông số tiền 40.000.000 đồng.

Bị đơn bà N1 có lời trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của ông N.

Nguyên đơn bà L có lời trình bày:

Xác định cho ông N và bà N1 vay số tiền là 208.000.000 đồng, có ký biên nhận nợ. Sau đó bà L có nhận số tiền 100.000.000 đồng nên yêu cầu ông N và bà N1 trả số tiền 108.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi. Bà L xác nhận hàng tháng có nhận 4.000.000 đồng là tiền lãi, nhận được 14 tháng, chữ ký và dấu lăn tay là của bà. Đối với số tiền ông N trình bày đã trả 70.000.000 đồng là không có, bà L có lấy chiếc xe Honda đã cũ và sau đó bà có trả lại nhưng bà A không nhận nên bà đã bán cho người thu mua ve chai được 1.000.000 đồng, bà đã trừ vào số tiền bà A nợ, còn nợ lại 2.500.000 đồng nhưng bà không yêu cầu trả lại và xác định đây là việc cấn trừ nợ giữa bà và bà A không liên quan đến nợ của ông N. Sau này bà A có quyền kiện bà vụ án khác liên quan đến chiếc xe Honda trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà A có lời trình bày:

Số tiền ba mẹ (ông N và bà N1) ký nhận nợ với bà L là nợ của bà khi xây nhà và bà L có lấy xe Honda của bà, ngoài ra bà không còn nợ nào khác với bà L.

Các đương sự không có thỏa thuận gì khác.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, bị đơn ông N và bà N1 kháng cáo đúng quy định tại các Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về yêu cầu kháng cáo:

Bà N1 và ông N ký nhận biên nhận nợ 208.000.000 đồng, trả 100.000.000 đồng. Việc trình bày trả 70.000.000 đồng bà L không thừa nhận, bà N1 và ông N không có căn cứ để chứng minh. Riêng số tiền 60.000.000 đồng trả dần hàng tháng 4.000.000 đồng bà L đồng ý là nhận tiền lãi cho 14 tháng. Đối với chiếc xe của bà A, bà L trình bày đây là cấn trừ nợ giữa bà L và bà A không liên quan đến số tiền nợ của bà N1 và ông N nên không có căn cứ xem xét trong vụ án. Đoạn ghi âm ông N1 thừa nhận còn nợ 108.000.000 đồng, hàng tháng trả 1.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L buộc bà N1 và ông N trả cho bà L số tiền 108.000.000 đồng là có căn cứ. Đối với số tiền bà

5

L thừa nhận 4.000.000 đồng là tiền lãi, nhận được 14 tháng, chữ ký và dấu lăn tay là của bà L, ông N trình bày là trả tiền gốc được 15 tháng. Căn cứ theo sổ ghi nợ thể hiện 15 tháng nên có căn cứ chấp nhận là tiền lãi theo lời thừa nhận của bà L. Số tiền theo biên nhận nợ 208.000.000 đồng, lãi suất pháp luật cho phép không quá 20%/năm tương đương 1,66%/tháng, số tiền bà L nhận 4.000.000 đồng/tháng tương đương 1,92%/tháng là vượt quá quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nên đề nghị điều chỉnh lãi suất theo quy định pháp luật.

Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông N và bà N1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn ông N và bà N1 kháng cáo hợp lệ nên vụ án được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông N và bà N1 về toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm. Căn cứ phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung vụ án có liên quan đến kháng cáo.

[3] Xét kháng cáo thấy rằng: Ông N và bà N1 vay nhiều lần tổng cộng số tiền 208.000.000 đồng, ngày 30/5/2022 ông N và bà L ký lại biên nhận nợ, ngày 11/8/2023 trả cho bà L số tiền 100.000.000 đồng nên còn nợ lại 108.000.000 đồng. Ông N và bà N1 thừa nhận có ký tên vào biên nhận nợ ngày 30/5/2022. Tuy nhiên, ông N và bà N1 cho rằng ông bà đã trả cho bà L số tiền 248.000.000 đồng, nên yêu cầu bà L trả lại 40.000.000 đồng. Ông N trình bày lần thứ nhất trả 18.000.000 đồng (trừ bà L lấy xe của bà A), không có chứng cứ chứng minh; lần thứ hai trả 70.000.000 đồng, không có chứng cứ chứng minh, lần thứ ba trả 60.000.000 đồng (mỗi tháng 4.000.000 đồng, góp được 15 tháng), quyển sổ do ông N tự ghi, bà L thừa nhận có lăn tay ký tên 14 tháng, bà L cho rằng đây là tiền lãi, khi bà L lăn tay không có hai chữ “trả dần”. Ông N trình bày trả dần nhưng bà L không thừa nhận nên có căn cứ theo lời trình bày của bà L là trả tiền lãi và theo sổ thể hiện trả 15 tháng.

[3.1] Ngày 11/8/2023 ông N qua nhà bà D trả cho bà L số tiền 100.000.000 đồng, hai bên thừa nhận. Ông N thừa nhận còn nợ bà L số tiền 108.000.000 đồng, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng. Sau đó, hai bên xảy ra xô xát nên ra Công an thị trấn H giải quyết. Từ đó, có căn cứ ông N và bà N1 còn nợ lại bà L số tiền 108.000.000 đồng như án sơ thẩm nhận định là có căn cứ.

[3.2] Đối với số tiền 4.000.000 đồng trả ngày 30/6/2022 đến ngày 30/8/2023 là 15 tháng. Tại Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định lãi suất cho vay không quá 20%/năm tương đương 1,66%/tháng, bà L nhận tiền lãi 4.000.000 đồng/tháng là vượt quá quy định pháp luật cho phép nên cần điều chỉnh cho phù hợp. Số tiền tính lãi 208.000.000 đồng x 1,66% = 3.443.706 đồng, tháng thứ 1 dư 556.531

6

đồng được trừ vào tiền gốc. Như vậy, đến ngày 30/8/2023 số tiền gốc còn nợ là 197.936.380 đồng trừ số tiền 100.000.000 đồng bà L đã nhận ngày 11/8/2023 thì nợ gốc còn lại là 97.936.380 đồng. Nên ông N và bà N1 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 97.936.380 đồng theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông N và bà N1 có căn cứ chấp nhận một phần.

[4] Từ nhận định mục [3], chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông N và bà N1, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Lời đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An có căn cứ được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông N và bà N1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 số tiền gốc 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng và tiền lãi 2.836.000 (hai triệu tám trăm ba mươi nghìn) đồng.
  2. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thúy A về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Trương Thị L số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1.

    Buộc ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị L số tiền 97.936.380 (chín mươi bảy triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm tám mươi) đồng.

7

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Trương Thị L số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
  2. Về chi phí thu thập chứng cứ: Bà Trương Thị L có nghĩa vụ chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng, đã nộp tạm ứng xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 phải chịu 4.896.000 (bốn triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn) đồng và 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền án phí đối với yêu cầu bị bác. Khấu trừ 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng phí đã nộp theo các biên lai thu số 0004430, 0004431 cùng ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ. Buộc ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 có nghĩa vụ nộp 4.896.000 (bốn triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn) đồng.

    Bà Trần Thị Thúy A không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thúy A 1.000.000 (một triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004432 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ.

    Bà Trương Thị L không phải chịu án phí.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn N, bà Trương Thị N1 không phải chịu. Hoàn trả 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí ông Trần Văn N và bà Trương Thị N1 đã nộp theo Biên lai thu số 0004649 và 0004650 ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
  5. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Huệ;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Huệ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Tuyền

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 308/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 308/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị L “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Trần Văn N1, Trương Thị N2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger