|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 308/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/8/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng, bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 330/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/6/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lưu Thị H, sinh năm 1998. ĐKHKTT: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
- Người được chị H ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Anh Phương Anh T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các văn bản gửi cho Tòa án, nguyên đơn là chị Lưu Thị H trình bày: Chị và anh Phương A T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương ngày 05/9/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn do khác biệt về tính cách và quan điểm sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nhưng không có biện pháp khắc phục nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2018 đến năm 2020 thì đi Đài Loan lao động. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T.
Chị với anh T có một con chung là Phương Gia H1- sinh ngày 01/12/2016. Chị đề nghị giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và chị sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 1.000.000đ/tháng.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị C đã thông báo cho chị H biết; chị H giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và đề nghị mức cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 2.000.000đ/tháng.
Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn là anh Phương A T trình bày thống nhất với chị Lưu Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Do cách sống, cách sinh hoạt của chị H với bố mẹ anh có nhiều điểm khác biệt, bản thân anh thì đi làm xa nên không kịp thời xử lý bất hòa giữa hai bên. Năm 2018, chị H tự ý bỏ về nhà đẻ ở. Anh đã tìm gọi nhưng chị H không về đoàn tụ cùng anh. Năm 2020, chị H đi lao động ở Đài Loan nhưng không trao đổi gì với anh. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay không có biện pháp đoàn tụ. Vì vậy anh nhất trí ly hôn chị H để mỗi bên sớm ổn định cuộc sống riêng.
Anh nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phương Gia H1- sinh ngày 01/12/2016 và nhất trí việc chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh là 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi con chung thành niên.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Lưu Thị H ly hôn anh Phương A T. Giao con chung Phương Gia H1- sinh ngày 01/12/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 8/2024 cho tới khi con chung thành niên. Buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Lưu Thị H hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Anh Phương Anh T hiện đang sinh sống tại phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị Tòa án án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[1.3] Các tài liệu chị H gửi cho Tòa án đều được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung các tài liệu thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị H.
[2] Về hôn nhân: Chị Lưu Thị H và anh Phương A T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương ngày 05/9/2016. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của các đương sự phù hợp với nhau nên có căn cứ xác định cuộc sống chung giữa chị H và anh T không hòa hợp do cách sống, cách sinh hoạt giữa chị H với gia đình anh T có nhiều điểm khác biệt. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị H xin ly hôn anh T, anh T nhất trí ly hôn chị H nhưng vì các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị H được ly hôn anh T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có một con chung là Phương Gia H1- sinh ngày 01/12/2016. Các đương sự thống nhất giao cháu H1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 muốn ở cùng anh T nên được chấp nhận. Chị H đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi con chung thành niên và được anh T nhất trí nên cần chấp nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lưu Thị H và anh Phương Anh T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Phương Gia H1- sinh ngày 01/12/2016 cho anh Phương A T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lưu Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng một tháng) kể từ tháng 8/2024 cho tới khi con chung thành niên. Cấp dưỡng theo tháng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Chị Lưu Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (do chị Vũ Thị C nộp thay) theo biên lai số 0000800 ngày 13/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 308/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 308/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh T
