Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2024/HS-ST

Ngày 27 - 08 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Mai Thị Tiếp.
  • Ông Lê Cát Tưởng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến – Thư ký tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 320/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 08 năm 2024, đối với bị cáo:

Chu Tuấn A; sinh ngày 06 tháng 09 năm 1997; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà H N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Đình T; Con bà: Lê Thị C; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ: Nguyễn Thị H, con: 02, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; tiền sự: Ngày 01/5/2023, Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “ Cố ý gây thương tích”; tiền án: Không; nhân thân: Không; Tạm giữ: bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 18/5/2024. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Trọng T1; sinh năm: 1981; nơi cư trú: Số nhà GN, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số nhà E P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Phố G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Anh Chu Đình C1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 2001; nơi cư trú: Phố Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 8/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân tố cáo Chu Tuấn A và Nguyễn Đức L, sinh năm 2001, trú tại phố Q, phường Q, thành phố T có hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Ngày 9/5/2024 Chu Tuấn A đến Cơ quan CSĐT Công an Thành phố T đầu thú và khai nhận:

Từ đầu tháng 5 năm 2023 đến ngày 8/5/2024, Chu Tuấn A sử dụng tiền cá nhân cho một số người dân trên địa bàn thành phố T vay với mức lãi xuất 3000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm (cao gấp 5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự), cụ thể như sau:

  • Ngày 02/5/2023, Tuấn A cho anh Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1981, trú tại 0 N, phường Đ, thành phố T vay số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 3.000đ/triệu/ngày, cắt lãi trước 3.150.000 đồng, anh T1 thực nhận là 31.850.000 đồng. Anh Tú vay trong vòng 10 tháng, đã đóng đủ tiền lãi 10 tháng và thanh toán hết tiền gốc. Số tiền lãi Tuấn A thu của anh T1 là 31.500.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 5.753.424 đồng, số tiền thu lợi bất chính 25.746.575 đồng.
  • Ngày 01/9/2023, Tuấn A cho anh Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1981, trú tại E P, phường T, thành phố T vay số tiền 30.000.000 đồng (trong đó số tiền 12.600.000 đồng là tiền lãi 4 tháng thu được từ khoản cho anh T1 vay) lãi suất 3.000đ/triệu/ngày. Cắt trước 2.700.000 đồng tiền lãi tháng đầu, anh Đ thực nhận số tiền 27.300.000 đồng. Anh Đ vay trong vòng 7 tháng, đã đóng đủ tiền lãi trong vòng 07 tháng và đã thanh toán hết tiền gốc của gói vay. Số tiền lãi Tuấn A thu của anh Đ là 18.900.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 3.452.054 đồng, số tiền thu lời bất chính là 15.447.946 đồng.
  • Ngày 15/12/2023, do có có mối quan hệ quen biết từ trước nên Nguyễn Đức L đã giới thiệu Nguyễn Đức T2, sinh năm 1989, trú tại phố G, phường Q, thành phố T cho Tuấn A để vay tiền. Tuấn A đồng ý cho anh Nguyễn Đức T2 vay số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 3.000đ/triệu/ngày, cắt trước 1.350.000 đồng tiền lãi tháng đầu, anh T2 thực nhận số tiền 13.650.000 đồng. Anh T2 vay trong vòng 03 tháng, đã đóng đủ tiền lãi 03 tháng và thanh toán hết tiên gốc của gói vay. Tổng số tiền lãi Tuấn A đã thu của anh T2 là 4.050.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 739.726 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.310.274 đồng. Ở gói vay này, đối với tiền lãi, Tuấn A nhờ Nguyễn Đức L thu tiền lãi từ anh T2 cho Tuấn A và được hưởng lợi số tiền 2.025.000 đồng.
  • Ngày 02/02/2024, Tuấn A cho anh Chu Đình C1, sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000đ/triệu/ngày, cắt trước 900.000 đồng, anh C1 thực nhận số tiền là 9.100.000 đồng. Anh C1 trong vòng 03 tháng, đã đóng đủ tiền lãi và đã thanh toán hết tiền gốc của gói vay. Số tiền lãi Tuấn A thu của anh C1 là 2.700.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 493.150 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.206.850 đồng.

Như vậy, từ ngày 2/5/2023 đến tháng 5/2024, Chu Tuấn A sử dụng 77.400.000 đồng cho vay, thu tổng số tiền lãi là 57.150.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 10.438.354 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 46.711.646 đồng

Về bồi thường dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Đức T2, Chu Đình C1, không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự.

Đối với Nguyễn Đức L: Ngoài việc giới thiệu và đi thu lãi khách vay cho Tuấn A để hưởng lợi số tiền 2.025.000 đồng, Nguyễn Đức L còn sử dụng tiền cá nhân của mình cho 02 người khác vay tiền, cụ thể:

Từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, L sử dụng 20.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thành T3, sinh năm 2001, trú tại phố Q, phường Q, thành phố T và chị Lê Thị D, sinh năm 1988, trú tại 0 N, phường N, thành phố T vay tiền, lãi 2.000.000 đồng trong vòng 60 ngày. Tổng số tiền lãi L đã thu 4.000.000 đồng, số tiền lãi thu theo quy định là 657.534 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.342.466 đồng.

Nguyễn Đức L đã có hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng số tiền thu lời bất chính dưới 30.000.000 đồng, L chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến cho vay nặng lãi nên không cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T chuyển Công an thành phố T đề nghị Chủ tịch UBND thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng kí ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự”. quy định tại điểm đ, khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, đối với Nguyễn Đức L.

Quá trình điều tra bị cáo Chu Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại bản cáo trạng số 247/CT-VKSTPTH ngày 02 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Chu Tuấn A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng ý với toàn bộ quan điểm và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày hiện tại bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản nào đáng giá.

Quá trình điều tra những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo, nội dung bản cáo trạng.

Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Điều 46, Điều 47 BLHS BLHS đề nghị:
  • Về hình phạt chính: Xử phạt Chu Tuấn A mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tạm giữ từ trước sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt .

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Chu Tuấn A

  • Về hình phạt bổ sung: Xử phạt Chu Tuấn A số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng

Đề nghị truy thu để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước của bị cáo số tiền gốc đã cho vay là 77.400.000 đồng, tiền lãi suất 20% theo quy định là 10.438.354 đồng. Tổng số tiền truy thu của bị cáo là 87.838.000 đồng (đã làm tròn).

Công nhận sự tự nguyện thoả thuận về việc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Đức T2, Chu Đình C1, không có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi vượt quá theo quy định.

Ngoài ra Đại diện VKSND còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở chứng minh: Do có mục đích lợi nhuận bất chính, từ ngày 2/5/2023 đến ngày 8/5/2024, Chu Tuấn A đã cho một số người vay tiền với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm (cao gấp 5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Tổng số tiền mà Chu Tuấn A sử dụng để cho vay là 77.400.000 đồng cho vay, thu tổng số tiền lãi là 57.150.000 đồng, số tiền lãi thu theo quy định là 10.438.354 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 46.711.646 đồng.

Bị cáo nhận thức được việc “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là cho vay với lãi suất 109,5%/năm nhằm thu lời bất chính nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào khoản 1 Điều 201 BLHS như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 03 tình tiết giảm nhẹ như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại đến quyền lợi của người vay. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Nên áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo cải tạo tại địa phương (thời gian bị tạm giữ sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt) để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản nào đáng giá nên không thực hiện việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với số tiền gốc 77.400.000 đồng bị cáo dùng để cho vay, những người có quyền lợi, nghĩa vụ đã trả lại cho bị cáo, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần phải truy thu từ bị cáo để tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với khoản tiền lãi suất giới hạn 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo 10.438.354 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần phải truy thu từ bị cáo để tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với khoản lãi suất bị cáo thu vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tại cơ quan điều tra, và tại bản báo cáo nộp cho Toà án anh Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Huy Đ, Nguyễn Đức T2, Chu Đình C1, không có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi vượt quá theo quy định nên không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Tuấn A cho vay với mục đích vụ lợi nên căn cứ khoản 3 Điều 201 BLHS áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 35.000.000 đồng đối với bị cáo Tuấn A.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố: Bị cáo Chu Tuấn A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

  • Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Chu Tuấn A 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 (chín) ngày tạm giữ từ trước tương đương với 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo phải chấp hành hình phạt là 11 (mười một) tháng 3 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Tuấn A cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  • Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Chu Tuấn A 35.000.000đ (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước từ bị cáo Chu Tuấn A số tiền gốc 77.400.000₫ (Bằng chữ: Bảy mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng) và 10.438.000đ (Bằng chữ: Mười triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn đồng, đã làm tròn) tiền lãi suất tối thiểu 20%/năm theo quy định. Tổng là 87.838.000đ (Bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng).

Án phí: Bị cáo Chu Tuấn A phải nộp 200.000₫ (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người có ql, nv lq;
  • VKSND, TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • CA thành phố Thanh Hoá;
  • THAHS, DS thành phố Thanh Hoá;
  • VKSND thành phố Thanh Hoá;
  • Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Thị TiếpLê Cát TưởngNguyễn Thanh Tân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (criminal case)

  • Số bản án: 307/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger