|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 307/2023/HS-PT
Ngày 25 tháng 8 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Ký
Bà Đinh Thị Kiều Lương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Minh T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ tên: Nguyễn Minh T, T1 gọi khác: Ú; Giới tính: Nam; Sinh năm 1971, tại Đồng Nai. Chết ngày 06/7/2023. Nơi cư trú: 01/1, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên cha: Nguyễn Văn K (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B (đã chết). Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu. Họ tên vợ: Nguyễn Thị T2 - Sinh năm 1979. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2000.
- Họ tên: Lý Quốc T3, T1 gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 1984, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: P8, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa. Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Họ tên cha: Lý P – sinh năm 1938 (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S - sinh năm 1947 (còn sống). Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Minh T4 – sinh năm 1986, bị cáo có 02 người con nhỏ sinh năm 2014, lớn sinh năm 2023.
- Họ tên: Nguyễn Văn T5, T1 gọi khác: Cà chua. Giới tính: Nam; Sinh năm 1985, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Thợ sơn. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Họ tên cha: Không rõ. Họ tên mẹ: Phạm Thị X - sinh năm 1949 (còn sống). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Kim Q – sinh năm 1992, bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2023.
- Họ tên: Phạm Thị H, T1 gọi khác: Không. Giới tính: Nữ; Sinh năm 1967, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện nay: 87, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa. Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12. Họ tên cha: Phạm Viết C – sinh năm 1925 (đã chết). Họ tên mẹ: Phạm Thị N - sinh năm 1937 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Họ tên chồng: Nguyễn Thành L – sinh năm 1963, bị cáo có 02 người con sinh năm 1987 và năm 1990.
- Họ tên: Nguyễn Quốc T6. Tên gọi khác: Nhóc. Giới tính: Nam; Sinh năm 1984, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: 264/4, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T7 – sinh năm 1960 (còn sống). Họ tên mẹ: Vũ Thị Phương M - sinh năm 1960 (còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Ngọc C1 – sinh năm 1988, bị cáo có 02 người con sinh năm 2006 và năm 2008.
- Họ tên: Võ Nguyễn Toàn T8. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.Sinh năm 1987, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu A, ấp T, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa. Nghề nghiệp: Công nhân. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên cha: Võ Toàn T9 – sinh năm 1954 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M1 - sinh năm 1959 (còn sống); Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.
- Họ tên: Văn Công H1. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 1955, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: 213/5, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: 14/1, tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Họ tên cha: Văn Công K1 (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị C2 (đã chết); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ tên vợ: Vi Thị N1 –sinh năm 1954, bị cáo có 01 người con sinh (đã chết).
- Họ tên: Lương Thị L1. Tên gọi khác: H1. Giới tính: Nữ; Sinh năm 1963, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: 145/29, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 4/10; Họ tên cha: Lương Văn L2 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T10 (đã chết); Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Họ tên chồng: Bùi Văn H2 – sinh năm 1963, bị cáo có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1996.
- Họ tên: Nguyễn Thị Thu N2; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ; Sinh năm 1969, tại Đà Nẵng. Nơi đăng ký thường trú: K1/112, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Tổ I, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T11 – sinh năm 1942 (còn sống); Họ tên mẹ: Phạm Thị Kim Y – sinh năm 1946 (còn sống); Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ hai. Họ tên chồng: Nguyễn Văn D – sinh năm 1968 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 người con sinh năm 1993 và năm 1996.
- Họ tên: Lương Thị Mỹ P1; Tên gọi khác: Bà C3. Giới tính: Nữ; Sinh năm 1965, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: 49/6, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 01/12; Họ tên cha: Lương Văn L2 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T10 (đã chết); Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Họ tên chồng: Phan Văn H3 – sinh năm 1959 và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án: Ngày 28/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Chấp hành xong bản án ngày 23/5/2022.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 19/7/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13/4/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 01/4/2006.
Bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 10/6/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/8/1995, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc (Bản án số 169/HSST); Ngày 19/01/1996 bị xử phạt 03 năm tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” (bản án số 05/HSST).
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/02/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 10/3/2016.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bào chữa theo yêu cầu bị cáo N2: Luật sư Đinh Công T12 – Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: K, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo May Out Ngọc L3, Trương Thị Diễm M2, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Nguyễn Như C4, Nguyễn Văn T13 và Võ Trọng N3 nhưng không có kháng cáo, kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 19/5/2022, tại nhà số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Minh T (Ú) làm chủ, Nguyễn Văn T13 (Mỹ), Võ Trọng N3 (B1) và M1 Tài bàn bạc với nhau sử dụng nhà của Minh T tổ chức cho Nguyễn Quốc T6(T6nhóc), Nguyễn Văn T5(Cà chua), May Out Ngọc L3, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1 (H2), Nguyễn Như C4, Văn Công H1, Trương Thị Diễm M2, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Lương Thị Mỹ P1 (Bà cá) và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức lắc T6-Xỉu, các con bạc tự lắc cái và tự đặt cược thắng thua với nhau để hưởng tiền xâu.
Cách thức đánh bạc như sau:
Bộ dụng cụ lắc T6-Xỉu gồm: 01 chén, 01 đĩa và 03 hột xí ngầu có 06 mặt, trên các mặt có các nút tương đương với các số từ 01 đến 06. Người làm cái sẽ bỏ 03 hột xí ngầu vào đĩa, úp chén lên đĩa, cầm xóc lên xuống nhiều lần rồi đặt xuống. Người chơi sẽ đặt tiền vào bên “T6” hoặc bên “Xỉu” trên chiếu bạc, để thắng thua trực tiếp với người làm cái. Khi mở chén ra, nếu mặt trên của 03 hột xí ngầu có các nút cộng lại được tổng số từ 10 điểm trở xuống thì gọi là “Xỉu”, người làm cái sẽ thắng số tiền bên “T6” và thua số tiền bên “Xỉu”; nếu tổng số các nút cộng lại được 11 điểm trở lên thì gọi là “T6”, người làm cái sẽ thắng số tiền bên “Xỉu” và thua số tiền bên “T6”. Trường hợp xuất hiện 03 hột xí ngầu giống nhau thì gọi là “Bão”, nếu có số điểm trên từ 11 điểm trở lên gọi là “Bão Tài” thì người đặt tiền bên “T6” hòa được lấy lại số tiền, người làm cái sẽ ăn hết số tiền của người đặt bên xỉu, nếu có số điểm từ 10 trở xuống thì gọi là “Bão xỉu” lúc này những người đặt tiền bên “Xỉu” hòa được lấy lại tiền, người làm cái sẽ ăn hết số tiền của người đặt bên tài.
Minh T, T13 và N3 phân công và thỏa thuận thu xâu như sau: Minh Tài thu xâu, T13 và N3 có nhiệm vụ rủ rê, lôi kéo người đến tham gia đánh bạc. N3 phục vụ mua nước và đồ ăn cho người tham gia đánh bạc. Minh T sẽ hưởng số tiền xâu của người làm cái số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng)/1 giờ. Nếu ván nào “Bão Tài” hoặc “Bão Xỉu” thì T13 và N3 sẽ lấy một nửa số tiền thắng “Bão”, T13 và N3 sẽ chia đôi số tiền này.
Quá trình đánh bạc, Quốc T6 đưa cho T5 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để T5 cầm cái đánh bạc. Quốc T6 và T5 thỏa thuận: Nếu thua thì Quốc T6 chịu mất tiền, nếu thắng thì Quốc T6 sẽ cho T5 tiền công sau khi kết thúc ngày đánh bạc.
Số tiền từng người sử dụng đánh bạc cụ thể như sau:
- Nguyễn Quốc T6 mang theo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và đã đưa cho Nguyễn Văn T5 cầm cái và để dưới chiếu bạc, khi bị bắt bị thu giữ chung số tiền trên chiếu bạc nên không rõ số tiền thắng thua.
- Nguyễn Văn T5 mang theo 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) nhưng không sử dụng vào việc đánh bạc. Tiền làm cái do Quốc T6 đưa, T5 phụ giúp Quốc Tài đánh bạc.
- Phạm Thị H mang theo và sử dụng 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, H thua 3.400.000₫ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng), còn lại trên người số tiền 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) bị công an thu giữ.
- Lý Quốc T3 mang theo và sử dụng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đến 1.000.000đ (Một triệu đồng). Khi bị bắt, Toàn thắng 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), công an thu giữ trên người số tiền 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).
- Võ Nguyễn Toàn T8 mang theo và sử dụng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đến 1.000.000₫ (Một triệu đồng). Quá trình đánh bạc, T8 thắng 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt quả tang, công an thu giữ trên người số tiền 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).
- Trương Thị Diễm M2 mang theo và sử dụng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến 1.000.000₫ (Một triệu đồng). Quá trình đánh bạc, M2 không thắng không thua, công an thu giữ trên người số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- Nguyễn Thị Thu N2 mang theo và sử dụng 3.800.000đ (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, N2 thua 1.000.000đ (Một triệu đồng), còn lại số tiền 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) trên người bị công an thu giữ.
- Văn Công H1 mang theo và sử dụng 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) đến 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc, H1 thắng 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), công an thu giữ trên người số tiền 2.600.000₫ (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Lương Thị Mỹ P1 mang theo và sử dụng 2.400.000₫ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc, P1 thua 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), còn lại trên người số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) bị công an thu giữ.
- May Out Ngọc L3 mang theo và sử dụng 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đến 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, L3 thua 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng), còn lại trên người số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị công an thu giữ.
- Nguyễn Thị Quỳnh L4 mang theo và sử dụng 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc không thắng không thua, khi bị bắt công an thu giữ trên người số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- Lương Thị L1 mang theo và sử dụng 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc, L1 thua 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), còn lại 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đang đặt dưới chiếu bạc thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Như C4 mang theo và sử dụng 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc, mỗi ván đặt cược 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc, C4 không thắng không thua, công an thu giữ trên người số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, còn một số đối tượng (không rõ lai lịch) tham gia đánh bạc bỏ về trước, không rõ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và không rõ thắng thua.
Đến 15 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T13, Võ Trọng N3 đang tổ chức cho Nguyễn Quốc T6, Nguyễn Văn T5, May Out Ngọc L3, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1, Nguyễn Như C4, Văn Công H1, Trương Thị Diễm M2, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Lương Thị Mỹ P1 đang tham gia đánh bạc thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B phối hợp cùng Công an phường T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và trên người tham gia đánh bạc số tiền 38.700.000 đồng (Ba mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc.
Quá trình tổ chức đánh bạc, Nguyễn Minh T thu xâu được 1.000.000 đồng, T13 và N3 thu xâu được 700.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T13, Võ Trọng N3, Nguyễn Quốc T6, Nguyễn Văn T5, May Out Ngọc L3, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1, Nguyễn Như C4, Văn Công H1, Trương Thị Diễm M2, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Lương Thị Mỹ P1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T13, Võ Trọng N3, Nguyễn Quốc T6 còn khai nhận: Vào ngày 17/5/2022, tại địa điểm nêu trên, Minh T, T13 và N3 đã 01 lần tổ chức cho một số người khác tham gia đánh bạc (không rõ lai lịch). Minh T thu lợi bất chính được 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), T13 và N3 thu lợi bất chính được mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Tại bản án số: 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự (bị cáo T3 án dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự). Xử phạt các bị cáo:
- + L (ba) năm tù
- + Văn Công H1, Phạm Thị H mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù.
- + Nguyễn Văn T5, Lương Thị L1, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Thu N2 mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Lương Thị Mỹ P1 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Các bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”
Ngoài ra bản án còn tuyên xử các bị cáo M3 Out Ngọc L3 03 năm tù, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Nguyễn Như C4 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Đánh bạc” và các bị cáo Nguyễn Văn T13, Võ Trọng N3 80.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”
Vào các ngày 14,15,20 và 21 tháng 3 năm 2023 các bị cáo Nguyễn Thị Thu N2, Lý Quốc T3, Lương Thị L1, Nguyễn Quốc T6, Lương Thị Mỹ P1, Phạm Thị H, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Minh T, Võ Nguyễn Toàn T8 và Văn Công H1 làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự (bị cáo T3 án dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự). Xử phạt các bị cáo:
- + L (ba) năm tù.
- + Văn Công H1, Phạm Thị H mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù.
- + Nguyễn Văn T5, Lương Thị L1, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Thu N2 mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Lương Thị Mỹ P1 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Lương Thị Mỹ P1 và Phạm Thị H mang theo và sử dụng đánh bạc từ 2.400.000 đồng đến 10.000.000 đồng, Nguyễn Quốc T6 không trực tiếp tham gia đánh bạc mà đưa tiền cho T5 đánh dùm. Xét thấy số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự, thành phẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng.
Qúa trình xét xử phúc thẩm các bị cáo cung cấp nhiều tình tiết mới như: Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có nghề nghiệp ổn định; Bị cáo T6 đang nuôi mẹ già bị bệnh đi không vững, không có khả năng lao động; Bị cáo Nguyễn Thị Thu N2 bị bệnh đái tháo đường, rối loạn tích lũy lipid, bệnh gan, thoái hóa cột sống thắt lưng; Bị cáo H bị bệnh thiếu máu não, cao huyết áp, viêm khớp tay chân, hiện đã ly hôn, một mình bị cáo nuôi con nhỏ; Bị cáo Võ Nguyễn Toàn T8 từng tham gia nghĩa vụ quân sự, chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương; bị cáo Lương Mỹ P1 bị bệnh thoái hóa đốt sống cổ, u xơ cổ tử cung. Do các bị cáo cung cấp được nhiều tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo, chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc các bị cáo chấp hành cũng phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với các bị cáo Lý Quốc T3, Văn Công H1, Lương Thị L1 có tiền án, nhân thân về tội Đánh bạc, sau khi bị xét xử các bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân, lại tiếp tục phạm tội đánh bạc thể hiện các bị cáo là những đối tượng ham mê cờ bạc, coi thường pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Minh T chết ngày 06/7/2023. Căn cứ vào mục b.2 phần II Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2000 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và khoản 7 Điều 157, điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
Quan điểm luật sư T12 bào chữa cho bị cáo N2: Thống nhất tội danh và điều luật, nêu lên các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự, thành phẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị bệnh đái tháo đường, rối loạn tích lũy lipid, bệnh gan, thoái hóa cột sống thắt lưng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có thời gian chăm lo gia đình và chữa bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thu N2, Lý Quốc T3, Lương Thị L1, Nguyễn Quốc T6, Lương Thị Mỹ P1, Phạm Thị H, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Minh T, Võ Nguyễn Toàn T8 và Văn Công H1 làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
2.1 Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm đã nêu thể hiện:
Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/5/2022, tại nhà số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Minh T làm chủ, Minh T sử dụng căn nhà trên và cùng với Nguyễn Văn T13 và Võ Trọng N3 tổ chức cho Nguyễn Quốc T6, Nguyễn Văn T5, May Out Ngọc L3, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1, Nguyễn Như C4, Văn Công H1, Trương Thị Diễm M2, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Lương Thị Mỹ P1 và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức lắc “T6-Xỉu”. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và trên người tham gia đánh bạc số tiền 38.700.000 đồng (Ba mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T13, Võ Trọng N3 tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm a, c đối với bị cáo T13, N3 và bị cáo Minh T điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc T6, Nguyễn Văn T5, May Out Ngọc L3, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1, Nguyễn Như C4, Văn Công H1, Trương Thị Diễm M2, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Quỳnh L4, Lương Thị Mỹ P1 đã phạm tội “Đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
2.2. Về quyết định hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử phạt các bị cáo mức án: Lý Quốc Toàn 03 (ba) năm tù; Văn Công H1, Phạm Thị H mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù; Nguyễn Văn T5, Lương Thị L1, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Nguyễn Thị Thu N2 mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Lương Thị Mỹ P1 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù và Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với quy định pháp luật.
[3] Về nội dung kháng cáo: Các bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy: Xét đây là vụ án đánh bạc với sự tham gia của nhiều người, tổng số tiền đánh bạc không lớn, số tiền đánh bạc của từng bị cáo không lớn. Do đó, cần căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm đưa ra mức án nhằm mang tính giáo dục hơn là trừng trị cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Lương Thị L1, Văn Công H1 sử dụng số tiền đánh bạc từ 700.000 đồng đến 2.500.000 đồng là số tiền không lớn, tuy nhiên bị cáo H1 có 02 nhân thân trong đó có 01 nhân thân về tội đánh bạc, bị cáo L1 có 01 nhân thân về tội “Đánh bạc” năm 2013, thể hiện các bị cáo là những người nghiện cờ bạc, sau khi bị xét xử các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, lại tiếp tục phạm tội đánh bạc, thể hiện các bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Bị cáo L1 không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo H1 cung cấp các tình tiết mới như bị bệnh lao phổi, phải khám bệnh và uống thuốc điều trị thường xuyên, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng những tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Lý Quốc T3 mang theo và sử dụng 5.000.000đ, bị cáo từng có tiền án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là mức khởi điểm đầu khung hình phạt là đã xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo cung cấp tình tiết mới gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo mới sinh. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên mức án cấp sơ thẩm xét xử đã xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có tiền án về tội đánh bạc năm 2020 nay lại tiếp tục phạm tội đánh bạc. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo là không phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về điều kiện hưởng án treo. Do đó, kháng cáo của bị cáo không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Nguyễn Văn T5 được Quốc T6 đưa 5.000.000 đồng để đánh bài dùm. Năm 2005 bị cáo từng có nhân thân về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tham gia với vai trò không đáng kể trong vụ án, bị cáo chỉ là người đánh bài dùm, chưa được hưởng lợi trong vụ án, số tiền tham gia đánh bạc thấp. Bị cáo cung cấp tình tiết mới gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có mẹ già và vào 02 con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang có nghề nghiệp ổn định. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đồng thời xem xét chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành cũng phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Lương Thị Mỹ P1 và Phạm Thị H mang theo và sử dụng đánh bạc từ 2.400.000 đồng đến 10.000.000 đồng, Nguyễn Quốc T6 không trực tiếp tham gia đánh bạc mà đưa tiền cho T5 đánh dùm. Xét thấy số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình xét xử phúc thẩm các bị cáo cung cấp nhiều tình tiết mới như: Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo Quốc T6 đang nuôi mẹ già bị bệnh đi không vững, không có khả năng lao động; Bị cáo Nguyễn Thị Thu N2 bị bệnh đái tháo đường, rối loạn tích lũy lipid, bệnh gan, thoái hóa cột sống thắt lưng; Bị cáo H bị bệnh thiếu máu não, cao huyết áp, viêm khớp tay chân, hiện đã ly hôn, một mình bị cáo nuôi con nhỏ; Bị cáo Võ Nguyễn Toàn T8 từng tham gia nghĩa vụ quân sự, chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương; bị cáo Lương Mỹ P1 bị bệnh thoái hóa đốt sống cổ, u xơ cổ tử cung. Do các bị cáo cung cấp được nhiều tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo, chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc các bị cáo chấp hành cũng phù hợp với quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Minh T chết ngày 06/7/2023. Căn cứ vào mục b.2 phần II Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2000 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và khoản 7 Điều 157, điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Lương Thị Mỹ P1 và Phạm Thị H được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc.
Kháng cáo của các bị cáo Lý Quốc T3, Văn Công H1, Lương Thị L1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[6] Quan điểm luật sư bào chữa tại phiên tòa phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 157; điểm a, b, d khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự. Mục b.2 phần II Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2000 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
- Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về phần quyết định và đình chỉ một phần vụ án về hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lý Quốc T3, Văn Công H1, Lương Thị L1.
- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Quốc T6, Võ Nguyễn Toàn T8, Lương Thị Mỹ P1 và Phạm Thị H, sửa bản án sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt:
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt:
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt:
Bị cáo Lý Quốc T3 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 19/7/2022.
Bị cáo Văn Công H1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022.
Bị cáo Lương Thị L1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022.
Bị cáo Phạm Thị H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T5 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Quốc T6 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Võ Nguyễn Toàn T8 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu N2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Lương Thị Mỹ P1 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc T6 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T5 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Võ Nguyễn Toàn T8 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu N2 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lương Thị Mỹ P1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Các bị cáo Nguyễn Quốc T6, Nguyễn Văn T5, Lý Quốc T3, Phạm Thị H, Nguyễn Thị Thu N2, Lương Thị L1, Văn Công H1, Võ Nguyễn Toàn T8, Lương Thị Mỹ P1 bị xét xử về tội “Đánh bạc”
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 307/2023/HS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 307/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
