Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2024/HS-ST
Ngày: 16/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thu Hà và ông Lê Như Toản
  • Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Phạm Kim Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 257/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292A/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn Đ, sinh ngày: 12/6/1984; tại: tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trương Công L và bà Vũ Thị Đ1; vợ: Nguyễn Thị T và có 01 con, sinh năm 2007;

Tiền án:

  • + Tại bản án số 266/2006/HSST ngày 09/8/2006, Trương Văn Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 30 tháng về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Ngày 30/8/2010, Trương Văn Đ chấp hành xong án phạt tù; chưa chấp hành phần thi hành án dân sự.
  • + Tại bản án số 97/2021/HSST ngày 30/09/2021, Trương Văn Đ bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 02/6/2022, Trương Văn Đ chấp hành xong án phạt tù. Ngày 07/10/2022, thi hành xong phần thi hành án dân sự.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

  • + Tại bản án số 375/2008/HSST ngày 23/12/2008, Trương Văn Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội "Cướp tài sản". Tổng hợp hình phạt này với hình phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án hình sự số 266/HSST ngày 09/8/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long; buộc Trương Văn Đ phải chấp hành hình phạt tổng hợp chung của hai bản án là 57 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2008. Ngày 30/8/2010, Trương Văn Đ chấp hành xong án phạt tù. Ngày 12/5/2011, chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án số 357/2008/HSST ngày 23/12/2008;
  • + Tại bản án số 179/2012/HSST ngày 24/7/2012, Trương Văn Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù giam về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Ngày 14/3/2015, Trương Văn Đ chấp hành xong án phạt tù. Ngày 26/4/2013, chấp hành xong phần thi hành án dân sự.
  • + Ngày 19/8/2016, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý (quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 226/QĐ – XPVPHC).
  • + Ngày 08/02/2018, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 131/QĐ – XPVPHC)

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

* Bị hại: anh Hồ Xuân N, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ H, khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ C, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  • - Công ty TNHH S; địa chỉ: tầng B, Tòa nhà S, F L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Kim A, chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: bà Hạ Thị Lan A1, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ A, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: trưởng bưu cục Shopee Bãi C; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/4/2024, Trương Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát (BKS) 14H1 - 3619 chở Nguyễn Thị N1 (bạn gái của Đ) đi trên đoạn đường H thuộc tổ C, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đặng nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng, BKS:14B1-637.58, phía sau xe có 01 khung sắt đựng hàng của anh Hồ Xuân N là nhân viên giao hàng của bưu cục H2 thuộc Công ty TNHH S đang dựng tại trước cửa nhà số E đường H thuộc tổ C, khu I, phường B, thành phố H. Đặng nhìn thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa, không có ai trông coi nên Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ dừng xe, bảo N1 đi xe về nhà trước. Sau khi N1 điều khiển xe đi về, Đặng đi đến vị trí chiếc mô tô của anh Hồ Xuân N vặn chìa khóa, nổ máy, điều khiển xe đi về nhà tại tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Về đến nhà, Đ kiểm tra giá sắt có 01 bao tải màu xanh, bên trong có các kiện hàng. Tại móc treo đồ bên phải, sau yếm xe có để 01 bình nhựa cách nhiệt màu cam. Đặng tháo 02 yếm của xe, tháo giá sắt, tháo lồng trên yên xe, gỡ bao tải màu xanh, tháo 01 gương chiếu hậu bên trái và tháo BKS xe rồi mang toàn bộ những vật này cùng quần áo, khẩu trang, giày của Đ ra khu vực đồi phía sau nhà đốt. Riêng biển kiểm soát 14B1-637.58, Đặng mang đi vứt tại thùng rác ở cổng chào khu phố B, phường H. Xe mô tô trộm cắp được và khung giá sắt Đặng để ở sân nhà. Đến ngày 24/4/2024, thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Đ đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và giao nộp 01 xe mô tô do Đ trộm cắp.

Khám xét tại nơi ở của Trương Văn Đ thu giữ: 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen, mang biển kiểm soát: 14H1-3619, số khung RLCN2B5607Y015666, số máy 2B56-015666, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nửa đầu màu xanh trắng; 01 khung kim loại bằng thép kích thước (50x58) cm.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 83/KLĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H thể hiện: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát: 14B1 -637.58, số khung 3911KY212120, số máy JA39E1070372, đã qua sử dụng, được đăng ký lần đầu ngày 28/6/2019 tại thời điểm định giá tháng 4 năm 2024 có giá trị 9.295.000 đồng (chín triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 112/KLĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H thể hiện: 01 khung bằng sắt, kích thước (50x58) cm, có gắn 02 móc sắt, khối lượng 5,45 kg đã qua sử dụng vào thời điểm định giá tháng 4 năm 2024 có giá trị 49.000 đồng (bốn mươi chín nghìn đồng).

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng-đen-bạc không gắn biển kiểm soát, không có yếm, không có gương, số khung 3911KY212120, số máy JA39E1070372, đã qua sử dụng; 01 khung bằng kim loại, kích thước (50x58cm), màu xám, có gắn 02 móc sắt, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh N.
  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14H1-3619, số khung RLCN2B5607Y015666, số máy 2B56-015666, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nửa đầu màu xanh trắng đã thu giữ của Trương Văn Đ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tài sản 37 đơn hàng có trị giá 6.318.871 đồng và các tài sản khác của anh N như bao tải, bình giữ nhiệt, lồng nhựa... do không có thông tin về tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H không có căn cứ để ra yêu cầu định giá với tài sản này.

Tại bản cáo trạng số 4916/CT-VKSHL ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố Trương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo khai về hành vi trộm cắp tài sản như trong quá trình điều tra, thừa nhận khi trộm cắp xe mô tô của bị hại thì trên xe có nhiều gói, hộp bên trong có đựng hàng hoá để trong bao tải, trong khung sắt gắn trên xe và bị cáo đã mang đi đốt hết, nay bị cáo nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại số tiền là 6.318.871 đồng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Trương Văn Đ từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm bắt tạm giam: ngày 24/4/2024.

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự, giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14H1-3619, số khung RLCN2B5607Y015666, số máy 2B56-015666, đã qua sử dụng; tịch thu, tiêu huỷ: 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nửa đầu màu xanh trắng, đã qua sử dụng; buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Hồ Xuân N số tiền là 6.318.871đồng.

  • - Bị cáo không tranh luận.
  • - Lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu trên; tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật; thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi của bị cáo. Kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/4/2024, tại đường H thuộc tổ C, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trương Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô mang nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng-đen-bạc, trị giá 9.295.000 đồng (chín triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng); 01 khung sắt trị giá 49.000 đồng (bốn mươi chín nghìn đồng) của anh Hồ Xuân N. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 9.344.000 đồng (chín triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Ngoài ra, trong khung sắt trên xe của anh N còn có nhiều mã đơn hàng mà anh N có trách nhiệm giao cho khách hàng (theo hợp đồng lao động anh N đã ký kết với Công ty TNHH S).

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trương Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã nêu và viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

  • “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  • g) Tái phạm nguy hiểm”...

[2] Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lối sống buông thả, ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện. Bị cáo đã 04 lần bị xét xử và phải chấp hành hình phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, cho thấy bị cáo là đối tượng khó cải tạo. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân, nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nhưng xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14H1-3619, số khung RLCN2B5607Y015666, số máy 2B56-015666 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, chủ xe là anh Nguyễn Văn H, địa chỉ: G, K, Đ, Quảng Ninh, mã định danh 2300297870. Anh H có lời khai xác nhận chưa từng sở hữu chiếc xe trên. Do chưa rõ về nguồn gốc, chủ sở hữu tài sản nên cần giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H xác minh, làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
  • - 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nửa đầu màu xanh trắng thu giữ của bị cáo, không có giá trị, tại phiên toà bị cáo không yêu cầu trả lại, cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn trắng-đen-bạc không gắn biển kiểm soát, không có yếm, không có gương, số khung 3911KY212120, số máy JA39E1070372, đã qua sử dụng; 01 khung bằng kim loại, kích thước (50x58cm), màu xám, có gắn 02 móc sắt, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại theo đúng quy định của pháp luật, nên không xét.
  • - Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của bị hại, yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền tương đương với trị giá 37 mã đơn hàng bị mất là 6.318.871 đồng, bị cáo thừa nhận khi trộm cắp xe mô tô của bị hại thì trên xe có nhiều gói, hộp bên trong có đựng hàng hoá để trong bao tải, trong khung sắt gắn trên xe và bị cáo đã mang đi đốt hết, nay nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại. Xét lời khai của bị hại phù hợp với lời khai, danh sách mã đơn hàng của Công ty TNHH S, phù hợp với lời khai của bị cáo, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền trên.

[7] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Liên quan trong vụ án: có chị Nguyễn Thị N1 đi cùng bị cáo tại thời điểm bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại và chị N1 được biết số tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định chị N1 đã vắng mặt tại nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm, khi nào tìm được sẽ xem xét hành vi theo quy định của pháp luật, nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: bị cáo Trương Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ: ngày 24/4/2024.

2. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự.

  • - Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14H1-3619, số khung RLCN2B5607Y015666, số máy 2B56-015666, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nửa đầu màu xanh trắng, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 239/BB-THA ngày 17/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

  • - Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Hồ Xuân N, số tiền là 6.318.871đ (sáu triệu, ba trăm mười tám nghìn, tám trăm bảy mươi mốt đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Căn cứ khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Công an TP Hạ Long;
  • - Cơ quan ĐTCATP Hạ Long;
  • - Cơ quan THAHS TP Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 307/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger