Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 307/2024/HS-ST

Ngày: 31/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Khánh;

Bà Trần Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 265/2024/TLST-HS ngày 17/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-HS ngày 21/10/2024 đối với bị cáo:

Dương Vũ Ngọc T, sinh ngày 06/12/2007; Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn M, sinh năm 1985; Con bà: Vũ Thị H, sinh năm 1987; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện cho bị cáo Dương Vũ Ngọc T: Ông Dương Văn M, sinh 1985 và bà Vũ Thị H, sinh 1987. Cùng nơi thường trú: thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội – là bố mẹ đẻ của bị cáo (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Vũ Ngọc T: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).

- Bị hại: Anh Bùi Văn C, sinh ngày 11/11/2006. Nơi thường trú: Xóm Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Nơi tạm trú: ngõ A, TDP E, phường M, quận N, Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/05/2024, Dương Vũ Ngọc T xuống Hà Nội tìm việc làm và ở trọ tại số nhà G ngõ A T, phường M, quận N, Hà Nội cùng với anh Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1997, HKTT : C, B, Hà Nội) và anh Bùi Văn C, sinh năm: 2006, trú tại: xóm Đ, xã H, TP H, Hòa Bình.

Khoảng 18 giờ ngày 15/5/2024, T thấy anh C để chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen – trắng, không gắn biển kiểm soát ở sát cửa phòng trọ đối diện rồi để chìa khóa xe tại cửa sổ phòng trọ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 20h00 cùng ngày, lợi dụng lúc anh H1 đi vào nhà vệ sinh, anh C đang nằm ở giường xem điện thoại không để ý nên T đã lấy trộm chiếc chìa khóa xe máy anh C để ở cửa sổ và đi ra lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen – trắng trên của anh Cao D ra ngoài cổng khu trọ sau đó nổ máy xe đi về M, Hà Nội. Khi đi đến khu vực cầu T thì T dừng lại kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 01 biển kiểm soát: 28B1 – 412.24; 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn C và số tiền 240.000 đồng. T đã vứt căn cước công dân cùng BKS: 28B1 – 412.24 xuống sông còn số tiền 240.000 đồng, T đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 23h00 cùng ngày, T đi xe máy về khu vực thôn P, xã K, huyện M, Hà Nội thì gặp bạn là Nguyễn Lý Châu A, sinh ngày 17/11/2007, HKTT: Thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội rồi cả hai cùng đi chơi game. Đến khoảng 10 giờ ngày 16/05/2024, Châu A nhờ T chở về nhà, T đồng ý và bảo Châu A điều khiển xe chở T. Khi cả hai đi đến khu vực ngã 3 K, xã T, huyện S, Hà Nội thì bị anh Bùi Văn C phát hiện nên hô hoán và cùng một số người dân giữ T cùng xe máy lại và bàn giao cho Công an xã T, huyện S, Hà Nội còn Châu A thấy vậy do sợ nên bỏ chạy. Cơ quan điều tra Công an huyện S sau khi xác minh đã tiến hành bàn giao T cùng vật chứng cho cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N để giải quyết.

Vật chứng thu giữ : 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen dán giấy màu trắng, không biển kiểm soát (số khung: RLHJK0338PY006788, số máy: JK03E0213060).

Tại Kết luận định giá tài sản số 134 ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen dán giấy màu trắng, không biển kiểm soát, số khung : RLHJK0338PY006788, số máy : JK03E0213060 trị giá 20.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Dương Vũ Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Lý Châu A, quá trình điều tra xác định: Châu A không biết nguồn gốc xe của T là tài sản do T trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision (số khung: RLHJK0338PY006788, số máy: JK03E0213060), quá trình điều tra xác định

xe có BKS: 28B1 - 412.24, đăng ký mang tên chị Bùi Thị N1 (sinh năm 1983, HKTT : N, K, Hòa Bình). Chị N1 khai mua và đăng ký chiếc xe trên từ tháng 6/2023 đến khoảng tháng 12/2023 chị bán lại cho anh Đỗ Minh T1 (sinh năm 1990, HKTT: T, Đ, Hà Nội). Đến tháng 4/2024, anh T1 bán lại chiếc xe trên cho anh Bùi Văn C. Kết quả tra cứu xác định xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen trắng (số khung : RLHJK0338PY006788, số máy : JK03E0213060) đã thu giữ cho anh Bùi Văn C. Anh C không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Lời khai tội của Dương Vũ Ngọc T phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.

Tại Bản cáo trạng số 261/CT-VKSNTL ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Dương Vũ Ngọc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Vũ Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản mục đích làm phương tiện đi lại.

Bị hại - anh Bùi Văn C vắng mặt nên không có lời trình bày tại Tòa.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 261/CT-VKSNTL ngày 11/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Vũ Ngọc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về dân sự: Anh C đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên không đề cập.

Truy thu số tiền 240.000đồng của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

Người bào chữa cho bị cáo - bà Nguyễn Thị N trình bày: Không có ý kiến về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo mà Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố. Tuy nhiên bị cáo khi phạm tội mới 16 tuổi 05 tháng 09 ngày. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ân hận về hành vi của mình gây ra, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc hợp ít nghiêm trọng, bị hại đã nhận lại tài sản. Do

vậy đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ Luật hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Lời nói sau cùng bị cáo Dương Vũ Ngọc T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 20h00 ngày 15/5/2024, tại số nhà G ngõ A T, phường M, quận N, Hà Nội, Dương Vũ Ngọc T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen dán giấy màu trắng, BKS: 28B1 – 412.24 (số khung: RLHJK0338PY006788, số máy: JK03E0213060) trị giá 20.000.000 đồng và số tiền 240.000 đồng của anh Bùi Văn C. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là: 20.240.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Vũ Ngọc T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Vũ Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực nhận thức về điều khiển hành vi của mình, tuy nhiên bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên cần phải xử lý nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra.

[4] Khi lượng hình phạt, xét bị cáo T tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội khi mới 16 tuổi 05 tháng 09 ngày bị cáo là vị thành niên, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại đã

nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Anh Bùi Văn C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền 240.000 đồng bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: không.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo T, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dương Vũ Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Vũ Ngọc T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng.

Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Truy thu số tiền 240.000 đồng của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

Xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Bị cáo Dương Vũ Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Vũ Ngọc T, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHN;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 307/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Vũ Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger