TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 307/2024/DS-ST
Ngày: 30 - 9 - 2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ron
Ông Hồ Đắc Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 32/2024/TLST-KDTM ngày 22/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 281/2024/QĐST-KDTM ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1, địa chỉ: 198 đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lương Anh T1 - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh B; uỷ quyền lại ông Lưu Việt A – Giám đốc XLN địa bàn MT2, địa chỉ 42 đường Y, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và ông Lê Anh V – Chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ : 04-06-08 đường Y, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Trần Quang T2, sinh năm 1975; địa chỉ tổ C, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV B1; địa chỉ Tầng B, Tòa nhà P, B N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn H – Trưởng phòng kế toán hành chính. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – do ông Lê Anh V là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 05/7/2022 ông Trần Quang T2 đã ký với Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT, Hợp đồng với các nội dung chính, số tiền vay 1.190.244.440 đồng, số tiền đã nhận nợ 1.190.244.440 đồng, mục đích vay thanh toán tiền mua căn hộ số 15 tầng 17 dự án chung cư C, thời hạn vay 240 tháng (từ ngày 6/7/2022 đến ngày 6/7/2042), Kỳ hạn trả nợ trả góp hàng tháng vào ngày 20 hàng tháng; lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 7,99%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn và được áp dụng với dư nợ gốc quá hạn. Ngoài ra, hợp đồng còn có các nội dung khác như về phí, giải ngân, phương thức cho vay... Ngày 06/6/2022, ông T2 tiếp tục ký với Ngân hàng Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân, số tiền vay 30.000.000 đồng, số tiền đã nhận nợ 30.000.000 đồng; mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 06/6/2022; lãi suất theo quy định tại Ngân hàng, lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 05/7/2022 ông T2 đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT, tài sản thế chấp gồm tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của ông Trần Quang T2 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số 1715/HĐMBCH/BĐSPT-PTR giữa Công ty TNHH MTV B1 và Ông Trần Quang T2 ký ngày 28/04/2022 bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp Đồng này liên quan đến việc mua bán Căn hộ số 15, tầng 17 thuộc Dự án chung cư cao tầng hồ S, Đường L, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là 461.631.170 đồng, trong đó gốc 213.623.550 đồng, lãi 248.007.620 đồng, cụ thể đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT ngày 05/7/2022 nợ gốc 183.623.550 đồng, nợ lãi 228.716.141 đồng; đối với Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân nợ gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi 19.291.479 đồng. Và tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần và đơn đề nghị vay vốn nêu trên phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.002.452.100 đồng và yêu cầu đối với việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT ngày 05/7/2022.
Ngoài trình bày trên, ông không có ý kiến yêu cầu hay đề nghị gì khác.
*/ Bị đơn ông Trần Quang T2 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa không lấy được lời khai.
*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH B1 – do ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH B1 có bán cho ông T2 căn hộ số PTR.17.15 theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 1715/HĐMBCH/BĐSPT-PTR ký ngày 28/04/2022. Việc ông T2 vay nợ của Ngân hàng để mua căn hộ thì ông T2 phải có trách nhiệm trả nợ vay cho Ngân hàng theo quy định. Trường hợp nếu Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng S thì ý kiến của Công ty T3 điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng và ông T2 xử lý tài sản bảo đảm. Công ty đồng ý để Ngân hàng tiếp nhận hợp đồng mua bán và trở thành Bên mua/Bên nhận chuyển nhượng mới của hợp đồng mua bán (Thông qua thủ tục chuyển nhượng hợp đồng mua bán hoặc thủ tục khác theo quy định của pháp luật). Ngân hàng hoặc Bên nhận chuyển nhượng mới có nghĩa vụ kế thừa toàn bộ quyền lợi trách nhiệm, nghĩa vụ của Khách hàng theo hợp đồng mua bán đã được ký kết. Trong vụ án, Công ty không có yêu cầu độc lập, không có ý kiến hoặc yêu cầu gì khác.
*/ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là 461.631.170 đồng, trong đó gốc 213.623.550 đồng, lãi 248.007.620 đồng và tiếp tục trả số tiền nợ lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 1.002.452.100 đồng và yêu cầu đối với việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT ngày 05/7/2022. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] HĐXX xác định tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 với bị đơn ông Trần Quang T2 là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vì mục đích của bên vay khi ký kết hợp đồng tín dụng là thanh toán tiền mua căn hộ, vay tiêu dùng.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Quang T2, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH B1 là ông Nguyễn Văn H mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông T2, ông H.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.002.452.100 đồng và xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT ngày 05/7/2022. HĐXX thấy rằng, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện như trên là tự nguyện, căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của đương sự.
[2] Ngày 05/7/2022 ông Trần Quang T2 đã ký với Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT, Hợp đồng với các nội dung chính, số tiền vay 1.190.244.440 đồng, số tiền đã nhận nợ 1.190.244.440 đồng, mục đích vay thanh toán tiền mua căn hộ số 15 tầng 17 dự án chung cư C, thời hạn vay 240 tháng (từ ngày 6/7/2022 đến ngày 6/7/2042), Kỳ hạn trả nợ trả góp hàng tháng vào ngày 20 hàng tháng; lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 7,99%/năm, lãi suất quá hạnLãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn và được áp dụng với dư nợ gốc quá hạn. Ngoài ra, hợp đồng còn có các nội dung khác như về phí, giải ngân, phương thức cho vay... Ngày 06/6/2022, ông T2 tiếp tục ký với Ngân hàng Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân, số tiền vay 30.000.000 đồng, số tiền đã nhận nợ 30.000.000 đồng; mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 06/6/2022; lãi suất theo quy định tại Ngân hàng, lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn.
HĐXX nhận thấy, Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT ngày 05/7/2022 và Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 06/6/2022 nói trên được ký kết bởi các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên đủ cơ sở để HĐXX xác định giao dịch nói trên là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là 461.631.170 đồng, trong đó gốc 213.623.550 đồng, lãi 248.007.620 đồng, cụ thể đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT ngày 05/7/2022 nợ gốc 183.623.550 đồng, nợ lãi 228.716.141 đồng; đối với Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân nợ gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi 19.291.479 đồng. Và tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần và đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân và các khoản phí, phạt quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng là có căn cứ theo quy định tại các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 05/7/2022 ông T2 đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT, tài sản thế chấp gồm tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của ông Trần Quang T2 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số 1715/HĐMBCH/BĐSPT-PTR giữa Công ty TNHH MTV B1 và Ông Trần Quang T2 ký ngày 28/04/2022. Tuy nhiên, như đã nhận định tại Mục [1.3], nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí KDTM-ST và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
[3.1] Về án phí KDTM-ST: Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông T2 phải chịu án phí 22.465.000 đồng, hoàn trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tổng cộng 3.000.000 đồng. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông T2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã tạm ứng 3.000.000 đồng do đó, ông T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 3.000.000 đồng.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1:
Buộc ông Trần Quang T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 tính đến ngày 30/9/2024 với tổng số tiền 461.631.170 đồng (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn một trăm bảy mươi đồng), trong đó gốc 213.623.550 đồng (Hai trăm mười ba triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn năm trăm năm mươi đồng), lãi 248.007.620 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu không trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm hai mươi đồng), cụ thể đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT ngày 05/7/2022 nợ gốc 183.623.550 đồng, nợ lãi 228.716.141 đồng; đối với Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 06/6/2022 nợ gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi 19.291.479 đồng, và tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218200178/HDTD/BDA-TQT ngày 05/7/2022 và Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 06/6/2022 và các khoản phí, phạt quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 đối với số tiền 1.002.452.100 đồng (Một tỷ không trăm lẻ hai triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn một trăm đồng) và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số REF22218200178/HDTC/BDA-TQT ngày 05/7/2022.
- Về án phí KDTM-ST và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
- Về án phí KDTM-ST: Bị đơn ông Trần Quang T2 phải chịu 22.465.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền 24.872.000 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000981 ngày 22/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Trần Quang T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
6
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND, CCTHADS Tp Quy Nhơn; - TAND TP.Quy Nhơn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Định |
7
Bản án số 307/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 307/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
