Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 307/2024/KDTM-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng thuê kho

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hồng Hải;
  2. Bà Phạm Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ 26 đến 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thuê kho” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 828/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ; trụ sở: F H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Tiến D, sinh năm 1995 và bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1998; cùng địa chỉ: F H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 24/01/2024).

  2. Bị đơn: Công ty Cổ phần X; trụ sở: 142/18 C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Mộng T1, sinh năm 1978; địa chỉ: làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chức danh: Giám đốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại các bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Công ty Cổ phần Đ do ông Lê Tiến D và bà Nguyễn Ngọc T làm đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 25/8/2023, Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ hoặc nguyên đơn) và Công ty Cổ phần X (sau đây gọi tắt là Công ty X hoặc bị đơn) có ký kết Hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT để khai thác kinh doanh. Theo đó, bên cho thuê là Công ty X đồng ý cho bên thuê là Công ty Đ chia sẻ, khai thác và sử dụng nhà kho tại địa chỉ F P, Phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích là 1300m², đơn giá là 100.000 đồng/m²/tháng. Ngay khi ký kết hợp đồng, Công ty Đ đã đặt cọc cho Công ty X khoản tiền cọc tương đương với 02 tháng tiền thuê là 286.000.000 đồng.

Đến tháng 09/2023, do không còn nhu cầu sử dụng, Công ty Đ và Công ty X đã thống nhất thanh lý hợp đồng thuê nhà kho bằng Biên bản thanh lý hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT2023 ngày 20/9/2023. Tại biên bản thanh lý, hai bên đã thỏa thuận rằng Công ty Đ sẽ chuyển giao khách hàng là Công ty TNHH S trực tiếp ký kết hợp đồng thuê lại diện tích kho nêu trên với Công ty X. Và Công ty X sẽ hoàn trả lại toàn bộ số tiền cọc 286.000.000 đồng cho Công ty Đ.

Ngày 05/10/2023, Công ty X và Công ty S đã ký kết hợp đồng thuê mặt bằng số 326/2023/HĐTMB/SPX - TFL. Sau đó, Công ty Đ đã liên hệ nhiều lần để yêu cầu Công ty X trả lại tiền cọc như thỏa thuận nhưng vẫn không nhận được sự hợp tác.

Ngày 13/11/2023, Công ty Đ đã gửi văn bản yêu cầu thanh toán tiền cọc. Ngày 30/11/2023, Công ty X đã phản hồi bằng công văn với nội dung sẽ giữ lại tiền cọc của Công ty Đ và yêu cầu san sẻ chi phí thất thoát tiền thuê kho trong 36 ngày, tính từ ngày 20/9/2023 (ngày thanh lý hợp đồng với Công ty Đ) đến ngày 16/10/2023 (là ngày bắt đầu thu tiền thuê kho của Công ty S). Tuy nhiên việc san sẻ chi phí này không được sự đồng ý của nguyên đơn.

Nay phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền cọc là 286.000.000 đồng và trả tiền lãi chậm trả đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 09%/năm là 8.594.000 đồng, tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 25/01/2024.

Bị đơn – Công ty Cổ phần X

đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc T trình bày: Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Công ty X có nghĩa vụ trả cho Công ty Đ số tiền nợ là 311.682.500 đồng, bao gồm: 286.000.000 đồng tiền cọc và 26.169.000 đồng tiền nợ lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2024 (với mức lãi suất 09%/năm).

Phía bị đơn - Công ty Cổ phần X vắng mặt không có lý do nên không rõ ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Pháp luật về tố tụng: Công ty Cổ phần Đ và Công ty Cổ phần X có ký hợp đồng thuê kho và đều có mục đích lợi nhuận. Do Công ty X vi phạm thỏa thuận giữa các bên nên Công ty Đ khởi kiện yêu cầu hoàn trả tiền cọc theo biên bản thanh lý hợp đồng mà các bên đã ký kết. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng thuê kho quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn - Công ty X có đăng ký trụ sở hoạt động tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, (đăng ký thay đổi lần thứ 01, ngày 26/8/2016) và Văn bản ủy quyền ngày 24/01/2024 thì ông Lê Tiến D và bà Nguyễn Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tham gia tố tụng. Việc ủy quyền của đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần,1 (đăng ký thay đổi lần thứ 14, ngày 22/12/2022) do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cung cấp cho Tòa án theo Công văn số 5579/ĐKKD-T6 ngày 12/6/2024 thì ông Nguyễn Mộng T1 là người đại diện theo pháp luật của bị đơn tham gia tố tụng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Tiến D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ; Bị đơn - Công ty Cổ phần X do ông Nguyễn Mộng T1 làm người đại diện theo pháp luật đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Đối với yêu cầu buộc bị đơn hoàn trả số tiền cọc là 286.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo mục III của Biên bản thanh lý hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT2023 ngày 20/9/2023 được ký giữa Công ty X và Công ty Đ có nội dung: “Bên Cty TFI còn phải hoàn trả lại cho C số tiền đặt cọc là 286.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản”. Theo mục IV của Biên bản thanh lý nêu trên có nội dung: “Hai bên thống nhất ký thanh lý hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT2023, ký ngày 25/08/2023 và cam kết tiếp tục thực hiện đúng các nghĩa vụ còn lại theo biên bản thanh lý...”.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho Công ty X và ông Nguyễn Mộng T1 là người đại diện theo pháp luật của công ty, bị đơn đã biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Mặt khác, Tại văn bản không số, đề ngày 30/11/2023 của Công ty X do ông Nguyễn Mộng T1 ký gửi Công ty L có nội dung: “……trước mắt khoản tiền cọc của Công ty Đ chúng tôi sẽ giữ lại sau đó hai bên sẽ thống nhất san sẻ chi phí thất thoát với bên Công ty chúng tôi”. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 286.000.000 đồng là tiền cọc chưa hoàn trả theo Biên bản thanh lý hợp đồng như nguyên đơn trình bày. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền còn thiếu nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 286.000.000 đồng. (1)

[2.2] Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi chậm thanh toán là 26.169.000 đồng tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2023, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại Biên bản thanh lý hợp đồng ký ngày 20/9/2023, các bên thỏa thuận “Bên C1 còn phải hoàn trả lại cho C số tiền đặt cọc là 286.000.000 đồng...bằng hình thức chuyển khoản” và “Biên bản thanh lý hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký”. Như vậy, việc nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi chậm trả từ ngày 20/9/2023 là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng là 11,75%/năm hay 0,98 %/tháng (Mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Thương mại Cổ phần N công bố là 11,25%, do Ngân hàng N1 công bố là 10,5%/năm, Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 công bố là 13,5%/năm). Việc nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất 09%/năm hay 0,75%/tháng là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2024 (12 tháng 06 ngày) là:

286.000.000 đồng x 0,75% x 12 tháng 06 ngày = 26.169.000 đồng. (2)

Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là:

(1) + (2) = 286.000.000 + 26.169.000 = 312.169.000 đồng.

[2.3] Về thời hạn và phương thức thanh toán: bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền còn thiếu nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 312.169.000 đồng phải trả cho nguyên đơn, án phí bị đơn phải chịu là 15.608.450 đồng.

Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 207, Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 267, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Cổ phần Đ:

    Buộc Công ty Cổ phần X trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 312.169.000 (Ba trăm mười hai triệu, một trăm sáu mươi chín ngàn) đồng, bao gồm: 286.000.000 đồng tiền cọc và 26.169.000 đồng tiền lãi tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2024, để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán theo Biên bản thanh lý hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT2023 ngày 20/9/2023 mà các bên đã ký kết.

    Phương thức và thời hạn thanh toán: Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Trường hợp Công ty Cổ phần X chậm thanh toán thì Công ty Cổ phần Đ có quyền yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí:

    Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 15.608.450 đồng (Mười lăm triệu, sáu trăm lẻ tám ngàn, bốn trăm năm mươi) đồng do Công ty Cổ phần X chịu.

    Hoàn lại cho Công ty Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí 7.364.850 (Bảy triệu, ba trăm sáu mươi bốn ngàn, tám trăm năm mươi) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001446 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê kho

  • Số bản án: 307/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê kho
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc Công ty Cổ phần X trả cho Công ty Cổ phần Đ số tiền 312.169.000 (Ba trăm mười hai triệu, một trăm sáu mươi chín ngàn) đồng, bao gồm: 286.000.000 đồng tiền cọc và 26.169.000 đồng tiền lãi tạm tính từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2024, để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán theo Biên bản thanh lý hợp đồng thuê tài sản (nhà kho) số 28/HĐKT2023 ngày 20/9/2023 mà các bên đã ký kết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger