Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2024/DS-PT

Ngày: 24-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Vào ngày 02 và ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 04 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 20 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 190/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lâm Chấn M, sinh năm 1965. Địa chỉ: C, Cư xá P, Phường A, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Ông Lâm Chấn M.

(Ông M có mặt; Ông A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/10/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/11/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Lâm Chấn M trình bày:

Ông Nguyễn Thành A là nhân viên của Ngân hàng Đ - Chi nhánh L - Phòng G. Ông A từng hỗ trợ cho ông Lâm Chấn M vay vốn và đáo hạn Ngân hàng. Ông A và ông M có thỏa thuận ông M đưa tiền cho ông A vay để làm ăn; ông A đưa tiền lãi lại cho ông M sử dụng. Việc thỏa thuận này diễn ra thường xuyên. Ngày 18/8/2023, cũng giống như những lần giao dịch trước, ông M đến Ngân hàng Thương mại cổ phần S, phòng G1 chuyển khoản vô số tài khoản 070068722096 Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh L của ông Nguyễn Thành A số tiền 500.000.000 đồng. Tuy nhiên ở lệnh thanh khoản ghi số tiền là 499.999.999 đồng- anh A kêu số tiền 499.999.999 đồng thì làm ăn sẽ may mắn hơn. Diễn giải chuyển khoản “Lâm Chấn M thanh toán tiền hàng” chỉ là ông A kêu ông M ghi cho có nội dung chuyển khoản, chứ giữa ông M và ông A không có việc mua bán tài sản hay hàng hóa. Sau khi chuyển khoản cho ông A 500.000.000 đồng vào ngày 18/8/2023 thì ông M không thể liên lạc được với ông A.

Ngày 29/9/2023, ông M có đến Ngân hàng Thương mại cổ phần S chi nhánh B, phòng G2, nơi mà ông M mở tài khoản 0903183654, đề nghị lập phiếu hoàn trả lệnh thanh toán với nội dung: yêu cầu hoàn trả lại tiền do đơn vị nhận không giao hàng và không liên lạc được, đề nghị ông A trả số tiền mà ông A đã nhận chuyển khoản vào ngày 18/8/2023. Nội dung trong phiếu hoàn trả này viết là tự ông M xác định, để phù hợp với nội dung chuyển khoản “Lâm Chấn Minh thanh toán tiền hàng” ở trên, chứ thực chất ông M và ông A thỏa thuận ông M cho ông A vay tiền.

Sau khi chuyển khoản, ông M và ông A không thỏa thuận thời hạn vay cụ thể, không có lập biên nhận về việc nhận số tiền đã chuyển khoản. Lãi suất xưa giờ đối với các lần làm ăn trước thì tùy thuộc ông A đưa. Hiện ông M chỉ yêu cầu ông A trả tiền lãi của số tiền gốc chưa trả với mức lãi suất là 12.5%/năm, được tính từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử sơ thẩm.

Số tiền cho ông A vay là tài sản riêng của ông M. Việc giao dịch giữa ông M và ông A không liên quan đến vợ của ông A nên ông M không yêu cầu vợ của ông A cùng liên đới trả tiền vay.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lâm Chấn M giữ nguyên yêu cầu tại nội dung đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Thành A trả số tiền vốn vay còn nợ là 500.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền gốc chưa trả với mức lãi suất là 12.5%/năm, được tính từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử sơ thẩm; tạm tính tiền lãi đến ngày 07/11/2023 là 15.600.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Thành A đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng khác hợp lệ, cũng như triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Bị đơn không có gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không tiến hành hòa giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 20 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 138; Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 116, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Chấn M đối với ông Nguyễn Thành A về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Thành A trả cho ông Lâm Chấn M số tiền vốn vay còn nợ là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), và tiền lãi của số tiền gốc chưa trả với mức lãi suất là 12.5%/năm, được tính từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử sơ thẩm-ngày 20/02/2024 là 26.173.333 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  2. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2023/QĐ-ADBPKCTT ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ. Sau khi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2023/QĐ-BPKCTT ngày 09/11/2023 bị hủy bỏ, ông Lâm Chấn M nhận lại số tiền nộp bảo đảm là 100.000.000 đồng tại Ngân hàng N chi nhánh huyện C Đông Long An.
  3. Về án phí: Ông Lâm Chấn M chịu án phí là 25.046.933 đồng. Tạm ứng án phí ông M đã nộp 12.312.000 đồng theo biên lai thu số 0010704 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc chuyển sang án phí. Ông M còn phải nộp thêm án phí là 12.734.933 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 29/02/2024, ông Lâm Chấn M kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Lâm Chấn M trình bày: Giữa ông và ông A hoàn toàn không có việc mua bán tài sản nào hết, số tiền ông chuyển khoản cho ông A là tiền vay, sau khi ông A nhận tiền thì ngày 16/9/2023 ông A có chuyển khoản cho ông số tiền 16.500.000 đồng để trả lãi, sau đó thì ông A không trả cho ông nữa, ông đã liên lạc ông A để yêu cầu trả số tiền nợ thì không liên lạc được và ông A đã nghỉ việc tại Ngân hàng. Tại phiên tòa, ông không yêu cầu ông A phải trả tiền lãi, chỉ yêu cầu ông A trả tiền nợ vay 500.000.000 đồng trừ số tiền ông A đã trả cho ông 16.500.000 đồng, số tiền ông A còn phải trả là 483.500.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Lâm Chấn M và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Ngày 18/8/2023 ông Lâm Chấn M có chuyển tiền cho ông Nguyễn Thành A, số tiền 499.999.999 đồng, qua số tài khoản ông A mở tại Ngân hàng S (nội dung ghi thanh toán tiền hàng). Ngày 29/9/2023 ông Lâm Chấn M đến ngân hàng yêu cầu hủy lệnh thanh toán tiền (do đơn vị nhận không giao hàng và không liên lạc được). Ông M có báo Công an v/v ông A cố tình lẫn trốn ông M (Công văn trả lời của Công an Q, TP HCM, số 6482 ngày 20/10/2023). Từ đó có cơ sở xác định lời trình bày của ông Lâm Chấn M là có cơ sở, việc ông M chuyển tiền cho ông A là có thật.

Do quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành A không phản hồi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, vì vậy căn cứ tài liệu chứng cứ do ông M cung cấp, xét kháng cáo của ông M về việc yêu cầu ông A phải hoàn trả lại tiền là có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Chấn M. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa anl nhân dân huyện C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lâm Chấn M thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Thành A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Thành A đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Ông Lâm Chấn M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành A trả số tiền vốn vay còn nợ là 500.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền gốc chưa trả với mức lãi suất là 12.5%/năm, được tính từ ngày 19/9/2023 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 20/02/2024 là 26.173.133 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Lâm Chấn M kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền nợ đã vay cộng tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M yêu cầu ông A trả số tiền còn nợ 483.500.000 đồng. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[4] Xét kháng cáo của ông Lâm Chấn M, thấy rằng:

[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M xác định ông có cho ông A vay số tiền 500.000.000 đồng. Vào ngày 18/8/2023, ông M đã chuyển khoản vô số tài khoản 070068722096 của ông Nguyễn Thành A số tiền là 499.999.999 đồng. Do tin tưởng ông A, yêu cầu ông chuyển số tiền 499.999.999 đồng thì làm ăn sẽ may mắn hơn và yêu cầu ông ghi nội dung chuyển khoản “Lâm Chấn M thanh toán tiền hàng” nên ông ghi theo yêu cầu của ông A, giữa ông và ông A không có việc mua bán tài sản hay hàng hóa nào.

[4.2] Căn cứ các chứng từ giao dịch của Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B1- Phòng G2 thì có đủ cơ sở xác định vào ngày 18/8/2023, ông M chuyển khoản cho ông A số tiền 499.999.999 đồng.

Đến ngày 16/9/2023 ông A có chuyển khoản cho ông M số tiền 16.500.000 đồng (có kèm chứng từ giao dịch của Ngân hàng). Ông M xác định số tiền này là ông A trả lãi cho ông. Tại nội dung zalo ông M cung cấp thể hiện: Ông An chuyển cho ông Lâm Chấn M số tiền 16.500.000 đồng, ông M có nhắn “Anh đã nhận nhiều vậy A”, ông A trả lời: “Dạ lúc này nhiều đó a, bù cho mấy lúc ít”. Sau đó thì ông M không liên lạc được với ông A và ông A cũng không trả lãi cho ông M nữa. Ông M đã gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Thành A tới Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.

Tại văn bản số 6482/TB-ĐTTH ngày 20/10/2023 của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo cho ông Lâm Chấn M có nội dung: “Việc ông M đồng ý cho anh A mượn tiền là quan hệ vay mượn trong giao dịch dân sự. Việc anh A không trả tiền cho ông M là vi phạm việc trả nợ nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an Q”.

Như vậy mặc dù phiếu chuyển tiền có nội dung “Lâm Chấn M thanh toán tiền hàng” nhưng giữa ông M và ông A không có giao dịch mua bán tài sản gì, sau khi ông M chuyển số tiền 499.999.999 đồng thì ngày 16/9/2023 ông A chuyển cho ông M 16.5000.000 đồng, ông M xác định là tiền lãi là phù hợp.

[4.2] Phía bị đơn ông Nguyễn Thành A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần những vẫn không đến để bảo vệ quyền lợi cho mình. Theo văn bản số 1023.1/TB2DV.LA ngày 14/6/2023 của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh L xác định ông Nguyễn Thành A - Chức vụ: Nhân viên hành chính quản trị thời gian nghỉ việc tại Ngân hàng từ ngày 15/6/2023. Tòa án đã đến địa chỉ ông An cư T để tiến hành lấy lời khai nhưng không gặp được ông A.

[5] Từ những phân tích trên có căn cứ xác định số tiền 499.999.999 đồng ông M chuyển cho ông A là tiền vay, kháng cáo của ông Lâm Chấn M yêu cầu ông Nguyễn Thành A trả số tiền vốn vay còn nợ là 483.500.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, cho rằng ông M không chứng minh được giao dịch giữa ông M và ông A là hợp đồng vay tài sản. Trường hợp ông M cho rằng ông M và ông A thỏa thuận giao dịch dân sự khác, ông A không thực hiện nghĩa vụ hoặc ông M đòi lại tài sản, nếu ông M có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác là chưa phù hợp.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời: Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2023/QĐ-ADBPKCTT ngày 09/11/2023. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên tiếp tục duy trì để đảm bảo việc thi hành án.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành A phải chịu án phí theo quy định, 483.500.000 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 83.500.000 đồng) = 23.340.000 đồng.

[9] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Lâm Chấn M được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Chấn M.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Chấn M đối với ông Nguyễn Thành A về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc ông Nguyễn Thành A phải có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Chấn M số tiền vốn vay còn nợ là 483.500.000 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2023/QĐ-ADBPKCTT ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Chấn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.312.000 đồng theo biên lai thu số 0010704 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  6. Ông Nguyễn Thành A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.340.000 đồng.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Chấn M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Lâm Chấn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011122 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 307/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 307/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger