|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 307/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 03/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Bà Đặng Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 229/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2024/QĐXXST–HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng P, sinh năm: 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú:
41 Bis T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: E đường số D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà: Nguyễn Thị Kiều H; có vợ là Lê Thị Hồng Đ và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Cẩm D, sinh năm: 1992.
- Ông Bùi Minh P1, sinh năm: 1977.
- Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1977.
- Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm: 1979.
- Bà Lê Thị H1, sinh năm: 1981.
- Bà Lê Xuân Đ1, sinh năm: 1990.
- Ông Phạm Văn X, sinh năm: 1991.
- Bà Phạm Thị N2, sinh năm: 1960.
Địa chỉ: 4 đường số D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: 4 đường số D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Thường trú: 3 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 359 đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Thường trú: 3 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 359 đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: B H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Thường trú: C N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: F đường số D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: 6 đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số (kế số 168) đường B, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Ngày 28/02/2023, bà Lê Thị Cẩm D vay Nguyễn Trọng P số tiền 5.000.000 đồng theo hình thức trả lãi đứng. Do đó, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, Nguyễn Trọng P đến nhà bà D để lấy tiền lãi hằng tháng mà bà D vay mượn của P. Tuy nhiên, do chưa có tiền nên bà D tiếp tục hứa hẹn với P thì P tỏ ra bực tức và cự cãi với bà D, P bỏ đi về nhà. Sau đó, bà D đến Công an phường H trình báo sự việc P cho vay lãi cao nên ngày 23/11/2023, Công an mời P về làm rõ sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, P khai nhận, từ khoảng tháng 12/2022, P bắt đầu cho người khác vay tiền lấy tiền lãi, theo 02 hình thức:
- Hình thức thứ nhất là vay trả lãi góp: Tiền vay được trả theo hình thức trả cả gốc và lãi trong thời gian nhất định.
- - Hình thức thứ hai là vay trả lãi đứng: Chỉ trả tiền lãi hằng ngày hoặc theo định kỳ, tiền gốc giữ nguyên đến khi nào trả được tiền gốc thì hoàn tất khoản vay.
Tổng cộng, P đã cho 11 người vay tiền với tổng số tiền 75.000.000 đồng, lãi suất vay dao động từ 60%/năm đến 304,17%/ năm. Cụ thể như sau:
- Bà Lê Thị Cẩm D:
- Ông Bùi Minh P1:
- Bà Nguyễn Thị Hồng T:
- Ông Nguyễn Thành N1:
- Bà Lê Thị H1:
- Bà Lê Xuân Đ1:
- Ông Phạm Văn X:
- Bà Phạm Thị N2:
Ngày 28/02/2023, bà D vay P số tiền 5.000.000 đồng theo hình thức trả lãi đứng, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng. Sau đó, đến ngày 01/3/2023, bà D vay thêm P số tiền 5.000.000 đồng theo hình thức lãi đứng, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng. Do hai khoản vay gần nhau nên hai bên thỏa thuận gộp hai khoản vay thành một. Như vậy, tổng số tiền bà D vay của P là 10.000.000 đồng, vay đứng, lãi suất 2.000.000 đồng/tháng, tương đương 20%/tháng hoặc 240%/ năm. Tổng số tiền lãi mà P thu của bà D bắt đầu từ tháng 03/2023 đến tháng 08/2023 là: 6 tháng x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 11.000.000 đồng, thu lợi hợp pháp là 1.000.000 đồng.
Từ tháng 09/2023 đến tháng 11/2023, bà D phải trả cho P số tiền là: 3 tháng x 2.000.000 đồng = 6.000.000 đồng, nhưng do bà D không có tiền đóng lãi cho P nên còn nợ lại. Ngày 22/11/2023, P đến nhà bà D để đòi nợ nhưng bà D chưa có tiền trả. Do đó, đối với khoản lãi từ tháng 9/2023 đến tháng 11/2023, P thu lợi bất chính số tiền là 5.500.000 đồng, thu lợi hợp pháp là 500.000 đồng.
Kết luận: P dùng 10.000.000 đồng cho bà D vay lãi nặng, bà D chưa trả cho P số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Tổng thu lợi bất chính của P trong khoản vay này là 16.500.000 đồng (trong đó 5.500.000 đồng chưa thực tế thu), thu lợi hợp pháp là 1.500.000 đồng (trong đó 500.000 đồng chưa thực tế thu).
Khoảng tháng 06/2023, ông P1 thỏa thuận vay P số tiền 8.000.000 đồng, theo hình thức vay đứng, mỗi tháng trả 1.600.000 đồng, tương đương 20%/tháng hoặc 240%/năm. Tổng số tiền lãi P thu của ông P1 bắt đầu từ tháng 7/2023 đến tháng 11/2023 là: 5 tháng x 1.600.000 đồng = 8.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 7.333.333 đồng, thu lợi hợp pháp là 666.667 đồng.
Kết luận: P dùng 8.000.000 đồng cho ông P1 vay lãi nặng, ông P1 chưa trả cho P tiền gốc là 8.000.000 đồng. P thu lợi bất chính là 7.333.333 đồng, thu lợi hợp pháp là 666.667 đồng.
- Lần 1: Vào khoảng tháng 4/2023, bà T vay P số tiền 5.000.000 đồng, theo hình thức vay góp, mỗi ngày trả 250.000 đồng trong vòng 24 ngày, như vậy, lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Bà T đã trả P đủ 24 ngày, tổng tiền P đã nhận là: 24 ngày x 250.000 đồng = 6.000.000 đồng. Trong đó, P thu lợi bất chính là 934.247 đồng, thu lợi hợp pháp là 65.753 đồng. Khoản vay đã tất toán.
- Lần 2: Vào khoảng tháng 06/2023, bà T vay phúc số tiền là 5.000.000 đồng, theo hình thức vay đứng, mỗi tháng trả tiền lãi 1.000.000 đồng, như vậy, lãi suất của khoản vay là 20%/ tháng hoặc 240%/ năm. Số tiền, bà T đã trả cho P bắt đầu từ tháng 7/2023 đến tháng 11/2023 là: 5 tháng x 1.000.000 đồng = 5.000.000 đồng, trong đó, P thu lợi bất chính 4.583.333 đồng, thu lợi hợp pháp là 416.667 đồng. Khoản vay này bà T còn chưa trả cho P số tiền gốc là 5.000.000 đồng.
Kết luận: Tổng số tiền P dùng cho bà T vay lãi nặng là 10.000.000 đồng, bà T chưa trả cho P 5.000.000 đồng tiền gốc. Tổng số tiền P thu lợi bất chính là 5.517.580 đồng, thu lợi hợp pháp là 482.420 đồng.
Khoảng tháng 4/2023, ông N1 vay P số tiền là 5.000.000 đồng, theo hình thức vay đứng, mỗi tháng trả lãi 1.000.000 đồng, như vậy lãi suất của khoản vay này là 20%/tháng hoặc 240%/năm. Số tiền ông N1 đã trả cho P bắt đầu từ tháng 05/2023 đến tháng 11/2023 là: 7 tháng x 1.000.000 đồng = 7.000.000 đồng. Trong đó, P thu lợi bất chính là 6.416.667 đồng, thu lợi hợp pháp là 583.333 đồng.
Kết luận: P dùng 5.000.000 đồng cho ông N1 vay lãi nặng, ông N1 chưa trả P 5.000.000 đồng tiền gốc. P thu lợi bất chính là 6.416.667 đồng, thu lợi hợp pháp là 583.333 đồng.
- Lần 1: Ngày 29/10/2023, bà H1 vay của P số tiền 6.000.000 đồng theo hình thức vay góp, mỗi ngày trả 300.000 đồng trong vòng 24 ngày, như vậy lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Bà H1 đã trả đủ 24 ngày x 300.000 đồng = 7.200.000 đồng. Trong đó, P thu lợi bất chính là 1.131.096 đồng, thu lợi hợp pháp là 78.904 đồng. Khoản vay đã tất toán.
- Lần 2: Ngày 22/11/2023, P cho bà H1 vay số tiền 3.000.000 đồng theo hình thức vay góp trong vòng 24 ngày, mỗi ngày trả 150.000 đồng, P thu trước 01 ngày tiền lãi là 150.000 đồng, như vậy lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Đối với lần vay này, tổng số tiền P thu lợi là 25.000 đồng, trong đó thu lợi hợp pháp là 1.644 đồng, thu lợi bất chính là 23.356 đồng. Số tiền gốc bà H1 chưa trả cho P là 2.875.000 đồng.
Kết luận: P dùng 9.000.000 đồng cho bà H1 vay lãi nặng, bà H1 chưa trả lại P 2.875.000 đồng tiền gốc. Tổng thu lợi bất chính của P là 1.154.452 đồng, thu lợi hợp pháp là 80.548 đồng.
Ngày 07/11/2023, bà Đ1 vay P số tiền 6.000.000 đồng theo hình thức vay góp, mỗi ngày trả 300.000 đồng trong vòng 24 ngày, mỗi ngày trả 300.000 đồng trong vòng 24 ngày, như vậy lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Tính đến ngày P bị phát hiện, bà Đ1 đã trả được 16 ngày x 300.000 đồng = 4.800.000 đồng. Số tiền lãi P thu là 800.000 đồng, trong đó, tiền thu lợi hợp pháp là 52.603 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 747.397 đồng.
Kết luận: P dùng 6.000.000 đồng cho bà Đ1 vay lãi nặng, bà Đ1 chưa trả P số tiền gốc 2.000.000 đồng. Tổng số tiền P thu lợi bất chính là 747.397 đồng, thu lợi hợp pháp là 52.603 đồng.
Khoảng tháng 09/2023, ông X vay P 5.000.000 đồng theo hình thức vay góp, mỗi ngày trả 250.000 trong vòng 24 ngày, như vậy lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Ông X đã trả đủ 24 ngày x 250.000 đồng = 6.000.000 đồng. Trong đó, P thu lợi bất chính là 934.247 đồng, thu lợi hợp pháp là 65.753 đồng.
Kết luận: P dùng 5.000.000 đồng cho ông X vay lãi nặng, đã thu lại đủ tiền gốc. Tổng thu lợi bất chính là 934.247 đồng, thu lợi hợp pháp là 65.753 đồng.
Ngày 31/10/2023, bà N2 vay P 5.000.000 đồng theo hình thức vay góp, mỗi ngày trả 250.000 trong vòng 24 ngày, như vậy lãi suất của khoản vay là 0,83%/ngày hoặc 304,17%/năm. Bà N3 đã trả đủ 24 ngày x 250.000 đồng = 6.000.000 đồng. Trong đó, P thu lợi bất chính là 934.247 đồng, thu lợi hợp pháp là 65.753 đồng.
Kết luận: P dùng 5.000.000 đồng cho bà N3 vay lãi nặng, đã thu lại đủ tiền gốc. Tổng thu lợi bất chính là 934.247 đồng, thu lợi hợp pháp là 65.753 đồng.
Đối với những người vay còn lại là bà Lại Thị Anh D1, bà Bùi Thị C, bà Hoàng Thị Kim M thì khoản vay của những người này với P có lãi suất chưa vượt quá 5 lần lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tổng số tiền thu lợi bất chính từ những khoản vay có lãi suất gấp 5 lần trở lên lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự là 39.537.923 đồng (gồm 34.037.923 đồng tiền lãi P đã thu và 5.500.000 đồng tiền lãi người vay (là bà Lê Thị Cẩm D) phải trả cho P). Tổng số tiền gốc P sử dụng để cho vay lãi nặng là 58.000.000 đông.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong gắn sim số thuê bao 0909131006.
Trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 232/CT-VKS-TPTĐ ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Trọng P về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trọng P về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trọng P phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 12/2022 đến ngày 22/11/2023, trên địa bàn phường H, thành phố T, bị cáo Nguyễn Trọng P đã thực hiện việc cho vay tiền với lãi suất cao từ 240%/năm đến 304,17%/năm (gấp 12 đến 15 lần mức cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự) để thu lợi bất chính. Tổng số tiền bị cáo cho vay là 58.000.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 39.537.923 đồng.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trọng P phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo Điều 201 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, qua đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người vay, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Số tiền bị cáo thu lợi bất chính khi cho vay là 39.537.923 đồng, do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- - Bà Lê Thị Cẩm D 11.000.000 đồng.
- - Ông Bùi Minh P1 7.333.333 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị Hồng T 5.517.580 đồng.
- - Ông Nguyễn Thành N1 6.416.667 đồng.
- - Bà Lê Thị H1 1.154.452 đồng.
- - Ông Lê Xuân Đ1 747.397 đồng.
- - Ông Phạm Văn X 934.247 đồng.
- - Bà Phạm Thị N2 934.247 đồng.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong gắn sim số thuê bao 0909131006, bị cáo sử dụng trong việc cho vay lãi nặng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 58.000.000 đồng bị cáo dùng để cho vay, xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) còn đang nợ bị cáo một số tiền nợ gốc nên cần truy thu từ những người này để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:
- + Bà Lê Thị Cẩm D 10.000.000 đồng.
- + Ông Bùi Minh P1 8.000.000 đồng.
- + Bà Nguyễn Thị Hồng T 5.000.000 đồng.
- + Ông Nguyễn Thành N1 5.000.000 đồng.
- + Bà Lê Thị H1 2.875.000 đồng.
- + Ông Lê Xuân Đ1 2.000.000 đồng.
- Tổng cộng là: 32.875.000 đồng.
- - Đối với số tiền lãi 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tổng cộng là 2.997.077 đồng, buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Như vậy, bị cáo còn phải nộp 25.125.000 đồng (58.000.000 đồng – 32.875.000 đồng = 25.125.000 đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng P phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trọng P 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng P trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- + Bà Lê Thị Cẩm D 11.000.000 (Mười một triệu) đồng.
- + Ông Bùi Minh P1 7.333.333 (Bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
- + Bà Nguyễn Thị Hồng T 5.517.580 (Năm triệu năm trăm mười bảy nghìn năm trăm tám mươi) đồng.
- + Ông Nguyễn Thành N1 6.416.667 (Sáu triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.
- + Bà Lê Thị H1 1.154.452 (Một triệu một trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi hai) đồng.
- + Ông Lê Xuân Đ1 747.397 (Bảy trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy) đồng.
- + Ông Phạm Văn X 934.247 (Chín trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng.
- + Bà Phạm Thị N2 934.247 (Chín trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong gắn sim số thuê bao 0909131006.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/320C ngày 18/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
+ Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền như sau để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:
- * Bà Lê Thị Cẩm D 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
- * Ông Bùi Minh P1 8.000.000 (Tám triệu) đồng.
- * Bà Nguyễn Thị Hồng T 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- * Ông Nguyễn Thành N1 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- * Bà Lê Thị H1 2.875.000 (Hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- * Ông Lê Xuân Đ1 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Trọng P nộp lại 25.125.000 (Hai mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng và 2.997.077 (Hai triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn không trăm bảy mươi bảy) đồng, tổng cộng là 28.122.077 (Hai mươi tám triệu một trăm hai mươi hai nghìn không trăm bảy mươi bảy) đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan văng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
9
Bản án số 307/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 307/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
